Gõ tìm nội dung có liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Thứ Năm, 25 tháng 12, 2014

Người Việt ở Malaysia & Singapore

Friday, September 30, 2011
Những năm gần đây, cùng với việc ngày càng có nhiều sinh viên và công nhân Việt Nam sang du học và lao động xuất khẩu tại Singapore và Malaysia, các nhóm giáo dân Công giáo người Việt cũng dần hình thành và đi vào hoạt động nề nếp tại những quốc gia này. Ở Singapore cách đây 2 năm, Cộng đoàn Đức Mẹ La Vang Singapore đã thành lập với trên 200 người. Bước đầu, thành phần tham gia Cộng đoàn chủ yếu gồm các sinh viên, tu nghiệp sinh nhưng dần có thêm một số người đang sống tại Singapore hay từ Việt Nam, hoặc từ Úc, Đức sang làm việc tại đây cùng tự nguyện gia nhập.
Trong khi ở Singapore chỉ có một Cộng đoàn, thì trước đó tại Malaysia có đến hàng chục nhóm giáo dân đã và đang được hình thành. Riêng tại bang Johor (nơi có nhiều công nhân Việt Nam sang làm việc, ước tính khoảng hơn 20.000 người), nằm tiếp giáp biên giới với đảo quốc Singapore, hiện có đến 10 nhóm giáo dân Công giáo người Việt được thành lập (mỗi nhóm quy tụ từ 50 đến 100 người).
Anh Cao Hà Thắng, người Úc gốc Việt, hiện đang làm công tác nghiên cứu và giảng dạy tại Trường Đại học kỹ thuật Nanyang (NTU) và là một trong những thành viên trụ cột của cộng đoàn Công giáo người Việt tại Singapore cho biết: “Khoảng 2 năm trước, tôi đến Singapore công tác và liền tìm tới một nhà thờ Công giáo để đi lễ. Tại đó tôi và một số sinh viên khác được gặp một linh mục người Việt, là Cha Gioan Nguyễn Văn Đích, thuộc Hội thừa sai Paris, từng sống tại Singapore trong hơn 20 năm. Được sự hướng dẫn của Cha
Đích, nhóm Công giáo chúng tôi từ đó được hình thành. Ban đầu nhóm chỉ gặp nhau hàng tuần để sinh hoạt, chia sẻ với nhau sau các thánh lễ bằng tiếng Anh. Dần dần chúng tôi còn tổ chức các thánh lễ bằng tiếng Việt. Bạn Bùi Quang Khôi, một sinh viên đang theo học tại NTU cho biết: “Lúc đầu khi vừa sang Singapore, tất cả mọi thứ dường như đều rất xa lạ với em. Do vậy khi biết được tại đây có một Cộng đoàn Công giáo Việt Nam em cảm thấy gần gũi với mọi người xung quanh hơn”. Tương tự như vậy, những người công nhân người Việt theo đạo Công giáo khi đến Malaysia cũng thường tìm đến với các nhà thờ Công giáo để tham dự lễ ngày Chủ nhật hay các dịp lễ lớn. Nhưng khác hẳn với phần lớn giáo dân người Việt ở Singapore, khi mới đến Malaysia các công nhân này phải tham dự các thánh lễ được cha xứ trình bày toàn bằng tiếng Malaysia, Trung Quốc hay Ấn Độ nên rất khó khăn. Nhận thấy được hoàn cảnh ấy, hơn nữa do số lượng công nhân theo đạo Công giáo ngày càng đông, nên Đức Cha Paul Tan, phụ trách Hội Đồng Giám mục Malaysia đã chính thức mời Cha Trần Văn Đợt từ Singapore sang làm công tác tuyên úy cho công nhân Việt Nam tại Malaysia. Theo lời chị Hoàng Thị Sỹ, đã sang Malaysia làm thợ may gần 3 năm qua nhưng chưa một lần về thăm nhà cho biết: “Nhớ nhà, nhớ con vô cùng. Chỉ có những thánh lễ bằng tiếng Việt, hay những cuộc gặp gỡ, chia sẻ với nhau như thế này thì mới giảm bớt được nỗi nhớ nhà. Cha Đích cho biết thêm: “Trong hoàn cảnh sống xa nhà, xa người thân, những dịp lễ cũng là dịp để mọi người gặp nhau, thể hiện tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau bằng cách này, hay cách khác. Bên cạnh đó, vào những dịp rảnh rỗi, các thành viên của các Cộng đoàn đứng ra tổ chức những chuyến đi từ Malaysia sang Singapore hay ngược lại để các giáo dân người Việt và gốc Việt có điều kiện thăm hỏi, động viên lẫn nhau...”.Từ nhiều năm nay, có nhiều vụ ngược đãi, bóc lột hay lừa đảo đối với các lao động Việt Nam tại Malaysia, đặc biệt là một số vụ buôn người, đã được các phương tiện truyền thông loan tải. Bộ luật phòng chống buôn người vừa được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 1/4/2011 và sẽ có hiệu lực từ đầu năm 2012.Đầu tháng 5/2011, hội nghị các tổ chức xã hội công dân của các nước thuộc khối ASEAN đã diễn ra tại Jakarta, trong đó có nội dung liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi của những người lao động nhập cư.Để hiểu thêm về tình trạng của người lao động nhập cư Việt Nam tại Malaysia, RFI phỏng vấn tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, thành viên của tổ chức Liên minh bài trừ nô lệ mới ở Á Châu (CAMSA).
RFI : Xin thân chào tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng. Malaysia vốn là nước tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam. Hiện nay, như anh biết, xu hướng lao động Việt Nam sẽ sang Malaysia ngày càng đông hơn. Là đại diện của một tổ chức thường xuyên theo dõi và hỗ trợ để bảo vệ quyền của người lao động Việt Nam tại Malaysia, anh có thể cho biết, người lao động Việt Nam trong thời gian gần đây có được an toàn không, và có được đối xử công bằng không, thưa anh ?
Nguyễn Đình Thắng : Trước hết, chúng tôi muốn cung cấp một vài con số thống kê về một số người Việt đang lao động tại Malaysia. Hiện nay, chúng tôi ước lượng có khoảng 100.000 công nhân Việt Nam. Có hai thành phần lao động : thứ nhất là những người lao động làm việc trong các công xưởng, và thứ hai là những người làm việc tại tư gia. Số lượng lao động ở tư gia có lẽ sẽ tăng lên rất nhiều trong thời gian tương lai trước mắt.
Hiện nay, những người lao động ở Malaysia đang gặp rất nhiều khó khăn, vì một số lý do sau đây.
Lý do thứ nhất, luật lệ của Mã Lai đối với những người lao động ngoại quốc thực sự chưa được áp dụng đúng đắn, tuy rằng có luật, nhưng những người lao động ấy không hề hiểu về luật và không biết quyền của mình được luật lệ hiện hành bảo vệ như thế nào. Thêm vào đó, luật đó có nhiều lỗ hổng, chẳng hạn như, chủ sử dụng lao động có toàn quyền sa thải công nhân bất cứ lúc nào. Chỉ trong vòng 24 tiếng là công nhân sẽ bị trục xuất, vì ngay sau khi bị sa thải, công nhân mất quyền lao động và quyền hiện diện tại Mã Lai. Vì vậy, xem như họ trở thành một người bất hợp pháp. Trong hoàn cảnh như vậy, họ không thể nào thưa kiện được.
Lý do thứ hai là các quốc gia gởi người đi, đặc biệt là Việt Nam, đã không có biện pháp để bảo vệ, đặc biệt là tòa đại sứ Việt Nam tại Malaysia, trong rất nhiều trường hợp lại đứng về phe chủ sử dụng lao động để trấn áp sự lên tiếng của những nạn nhân, có lẽ vì họ lo lắng rằng, [việc làm này] ảnh hưởng đến sự gia tăng số lượng người lao động xuất cảng sang Malaysia trong tương lai.
Bên cạnh đó, trong các hợp đồng mà các công nhân Việt Nam phải ký vào văn bản tiếng Việt với các công ty xuất khẩu lao động. Có rất nhiều điều khoản vi phạm vào lãnh vực nhân quyền căn bản. Chẳng hạn như, cấm công nhân không được có « quan hệ » trong thời gian sang lao động, tức là quan hệ tình cảm. Hoặc, nữ giới không được quyền có bầu, có thai, không được quyền lấy người bản xứ, không được tham gia vào các hoạt động công đoàn, tôn giáo, hay chính trị tại Mã Lai. Đặc biệt, vấn đề không được tham gia vào công đoàn độc lập của Mã Lai, thì cái đó chọi lại với luật của quốc gia Mã Lai, cho phép các công nhân ngoại quốc gia nhập nghiệp đoàn Mã Lai. Đây là hai yếu tố gây rủi ro rất nhiều cho công nhân Việt Nam khi họ lao động tại Mã Lai.
RFI : Tiến sĩ có thể cho biết, từ đầu năm đến nay, có những vụ việc gì liên quan đến người lao động Việt Nam tại Malaysia không ạ ?
Nguyễn Đình Thắng : Chúng tôi chưa hề thấy trong vụ việc nào liên quan đến tình trạng bóc lột lao động trầm trọng đến mức độ có thể xem là buôn lao động, mà có được sự can thiệp tích cực từ phía tòa đại sứ Việt Nam ở Malaysia. Tất cả các trường hợp mà chúng tôi can thiệp và giải cứu từ ba năm nay, hoặc là chính quyền Việt Nam không hề can thiệp và công ty môi giới đưa công nhân đi không hề can thiệp, bỏ rơi họ hoàn toàn, hoặc nếu có can thiệp thì lại mang tính trấn áp, để bằng cách này, cách kia, đưa công nhân về nước thật sớm, thay vì hỗ trợ cho họ để kiện tụng tranh đấu đòi quyền lợi, đặc biệt là đòi phần lương bổng đã bị chủ sử dụng lao động quỵt.
Tôi e rằng, trong thời gian tới đây, tình trạng này sẽ tiếp tục xảy ra, trừ khi chính quyền Việt Nam và đặc biệt là bộ Lao động, Thương binh, Xã hội có chỉ thị rõ ràng. Thứ nhất là đòi hỏi tất cả các đại diện của họ tại các quốc gia, nơi có người Việt Nam đang lao động, như tại Malaysia, phải thực thi đúng trách nhiệm, nghĩa vụ và bổn phận là bảo vệ cho công nhân, chiếu theo luật Xuất cảng lao động, chiếu theo các bản hợp đồng mà công ty môi giới đã ký kết. Việc thứ hai là, phải điều tra tất cả các công ty môi giới đã đưa người đi, và đã vi phạm luật pháp Việt Nam, hoặc là vi phạm hợp đồng đã ký kết với công nhân. Trong thời gian qua, chúng tôi đã cung cấp một danh sách khoảng gần 35 tổ chức công ty môi giới như vậy cho chính quyền Việt Nam. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa hề có công ty nào trong số đó bị điều tra và kỷ luật. Ngược lại, năm ngoái, sáu trong số các công ty được tuyên dương ở Việt Nam nằm trong danh sách các công ty bê bối mà chúng tôi cung cấp.
RFI : Dường như trong khoảng thời gian ba, bốn tháng trở lại đây, ít thấy những vụ việc liên quan đến người lao động tại Malaysia được phát giác, có phải không ạ ?
Nguyễn Đình Thắng : Thực tế, ngay tuần vừa rồi thôi, chúng tôi đã khám phá ra năm, bảy trường hợp vi phạm trầm trọng. Nhưng chúng tôi chưa lên tiếng, bởi vì chúng tôi chuyển các hồ sơ đó sang một tổ chức công đoàn độc lập của Malaysia để phối hợp. Kế hoạch của chúng tôi là tập trung vào một, hai hoặc tối đa là ba trường hợp rất điển hình và rất lớn, có tầm vóc quốc tế, chẳng hạn như liên quan đến một số đại công ty quốc tế. Chúng tôi dùng cái đó để đẩy nỗ lực chống buôn người đến tầm mức cao hơn, thay vì giải quyết những vụ rất nhỏ. Thực sự, chúng tôi vẫn tiếp tục giải quyết những vụ rất nhỏ để giải cứu nạn nhân, nhưng không dồn quá nhiều nỗ lực vào các việc nhỏ.
RFI : Thưa tiến sĩ, theo như tôi được hiểu, tiến sĩ là người rất quen thuộc với khu vực Đông Nam Á và mới đây, tiến sĩ qua dự Hội nghị Xã hội Công dân của các nước thuộc khối Asean, được tổ chức song song với Hội nghị thượng đỉnh giữa các nguyên thủ quốc gia. Trong Hội nghị này, xin tiến sĩ cho biết, vấn đề quyền lợi của người lao động có được đề cập đến không, và nếu có thì được đề cập đến như thế nào ?
Nguyễn Đình Thắng : Có những điểm sau đây liên quan đến người lao động đã được nêu lên trong bản tuyên bố chung. Thứ nhất là người lao động phải được tất cả các chính quyền Asean bảo vệ. Thứ hai là người lao động, dù ở tại quốc gia của họ hay ở một quốc gia Asean khác phải được bảo vệ và có toàn quyền tham gia hoặc thành lập nghiệp đoàn độc lập để bảo vệ quyền lợi cho họ. Thứ ba là, người lao động ở ngoài nước phải nhận được sự bảo vệ tuyệt đối của luật pháp, nơi quốc gia sở tại, nghĩa là quốc gia nơi họ đang lao động, như là một công nhân ở quốc gia đó. Điều này liên quan đến sự chênh lệch giữa hợp đồng bằng tiếng Việt mà công nhân phải ký kết với một công ty môi giới và luật pháp của Mã Lai như tôi mới trình bày. Và điểm thứ tư được nêu ra là, những người lao động tư gia, tức là những « gia nhân », tiếng Việt hiện nay gọi là Ô-sin, phải được thụ hưởng tất cả các bảo vệ của luật lao động, mà hiện nay ở rất nhiều quốc gia, họ không được xem như một người lao động thuần túy, họ không được che chở của luật lao động hiện hành. Tình trạng này xảy ra tại Mã Lai, ở Đài Loan và nhiều quốc gia khác. Suốt gần hai năm nay, Indonesia đã ngưng không xuất cảng những người lao động gia nhân như vậy đến Malaysia nữa. Trong khi đó, Việt Nam lại muốn gia tăng gởi số lượng người lao động tư gia. Đó là mối quan tâm của tôi, vì những người lao động đó rất dễ bị bóc lột, vì họ cô thế, một mình sống giữa bốn bức tường.
Tôi xin nhắc lại tình trạng lao động tư gia. Thực sự ra Indonesia và Philippines, hai quốc gia gửi rất nhiều lao động từ trước đến giờ, hiện nay đang có điều đình với chính phủ Malaysia để bảo vệ cho quyền lợi của người lao động tư gia của họ. Trong khi đó, Việt Nam chưa có động thái nào để can thiệp, bảo vệ hay lên tiếng phản đối, trong những trường hợp lao động tư gia bị bóc lột và bị đối xử hết sức tàn nhẫn bởi chủ nhân.
Có một vấn đề nữa chúng tôi muốn nêu ra là, hiện nay, tại Asean thiếu sự phối hợp giữa các chính quyền. Bởi vì buôn người là hiện trạng xuyên quốc gia, nếu có muốn truy tố và điều tra, phải có sự phối hợp giữa nhiều quốc gia, như vậy, mới tránh được tình trạng như chúng tôi đã trình bày. Chủ sử dụng lao động Mã Lai quỵt tiền lương của công nhân Việt Nam, lập tức sa thải họ và giao nạp cho cảnh sát Mã Lai để trục xuất về Việt Nam. Trong khi chính quyền Việt Nam không làm gì để lên tiếng, một khi nạn nhân bị đưa về Việt Nam rồi, không còn cơ hội để mà tranh đấu đòi công lý, quyền lợi cho mình. Hoặc ngược lại, ở Malaysia, đang muốn truy tố, nhưng phía Việt Nam không cho các công nhân là nạn nhân, quay trở lại ra tòa án Malaysia làm nhân chứng, thì cũng không thể nào truy tố được.
Chính vì như thế, chúng tôi sẽ đi vào một số trường hợp thật lớn và sẽ đi đến cùng cho đến khi nào giải quyết được một cách thỏa đáng theo luật pháp hiện nay, hoặc đòi hỏi sự cải tổ luật pháp để chống buôn người một cách hiệu quả hơn.
RFI : Thưa tiến sĩ, như vừa rồi tiến sĩ nói, việc chống buôn người và bảo vệ quyền cho người lao động không phải là vấn đề riêng của từng quốc gia một, mà là vấn đề xuyên quốc gia, đặc biệt là giữa các quốc gia thuộc một khu vực có liên quan mật thiết với nhau, như quan hệ Việt Nam và Malaysia. Vừa rồi luật chống buôn người vừa được Quốc hội Việt Nam thông qua và sắp có hiệu lực. Vậy thì theo tiến sĩ, những thách thức nào mà các tổ chức tại Việt Nam, đặc biệt là chính phủ Việt Nam phải giải quyết để có thể thực hiện được mục tiêu đó ? Nhân đây, cũng xin hỏi kèm thêm, thưa tiến sĩ, cái giải pháp như tiến sĩ đang thực hiện cùng với một số cơ quan tại Malaysia cho thấy sự phối hợp giữa xã hội dân sự và chính quyền là một yếu tố rất quan trọng. Như vậy, tiến sĩ có thể cho biết thêm một số kinh nghiệm tại các nước Asean được không ?
Nguyễn Đình Thắng : Trước hết, chúng tôi rất hoan nghênh Việt Nam lần đầu tiên có một luật về phòng, chống buôn người tương đối tổng hợp, hiểu theo nghĩa là có thừa nhận tình trạng buôn lao động. Trước đây luật pháp Việt Nam không thừa nhận tình trạng này, mà chỉ thừa nhận tình trạng buôn phụ nữ và trẻ em nằm trong bối cảnh phần lớn liên quan đến buôn tình dục. Trong khi đó, buôn lao động là thực tế lớn hơn và trầm trọng hơn buôn tình dục rất nhiều. Đây là một bước tiến rất đáng kể.
Tuy nhiên, theo nhận định của chúng tôi, luật Phòng, chống buôn người vừa được thông qua, không mang tính thực luật. Đó chỉ là một nghị quyết, bởi vì không có các biện pháp trừng trị. Ở trong các đạo luật, khi có sự vi phạm, phải có biện pháp trừng trị. Trong bộ luật này, chỉ nhắc đến, nếu có vi phạm, thì áp dụng hai điều khoản có trong bộ luật Hình sự hiện hành. Nhưng hai điều khoản trong bộ luật Hình sự không liên quan đến việc buôn lao động, chỉ liên quan đến việc buôn phụ nữ và trẻ em mà thôi. Thành ra cái đó là một khiếm khuyết rất lớn. Cái khiếm khuyết thứ hai là định nghĩa về buôn người rất lỏng lẻo, ai muốn diễn giải ra sao cũng được cả. Như vậy, khi truy tố, tùy theo công tố viên, có thể diễn giải tùy tiện diễn giải, đây là buôn người hay không phải.
Bộ luật này như vậy chỉ là một nghị quyết đưa ra quyết tâm phòng buôn người, hơn là chống buôn người thực sự. Dù sao chúng tôi cũng thấy rằng, có thể huy động được xã hội dân sự, người dân, các tổ chức tôn giáo trong nước, kể cả các công ty, doanh gia, giáo viên, sinh viên, v.v. để phổ biến thế nào là buôn người và hướng dẫn cho người dân làm thể nào để phòng ngừa không để trở thành nạn nhân của buôn người. Điều này cũng có thể khai thác được [theo luật này].
Đối với vấn đề truy tố tội buôn người, cần phải tu chính luật hiện nay, thì mới có thể thực hiện được. Nói về bối cảnh chung của khối Asean, càng ngày càng có nhiều quốc gia thông qua các luật phòng, chống buôn người. Có một số quốc gia quan tâm thực hiện các luật của họ một cách nghiêm chỉnh hơn, như là Indonesia, hay Philipppines. Một số quốc gia không nghiêm chỉnh lắm trong việc thực thi đạo luật của họ, như Malaysia hiện nay. Họ thông qua đạo luật, nhưng không quyết tâm thực hiện đạo luật. Cam Bốt cũng vậy. Còn Việt Nam vừa chỉ mới thông qua như chúng tôi mới trình bày.
Hiện nay, các khó khăn là, thứ nhất, các đạo luật của từng quốc gia còn rất nhiều khiếm khuyết. Thứ hai, vấn đề thực thi pháp luật còn rất lỏng lẻo, đặc biệt là ở các nước như Malaysia hay Việt Nam. Thứ ba là thiếu sự hợp tác giữa các nước. Và đặc biệt là chưa có sự tham gia ngang bằng của các tổ chức thuộc xã hội dân sự và chính quyền, ngoại trừ một vài quốc gia, như Philippines, Thái Lan, chính quyền hợp tác rất chặt chẽ với các tổ chức ngoài chính quyền. Còn ở các nước khác, các tổ chức ngoài chính quyền chưa được sự tôn trọng và đối xử ngang bằng, hợp tình hợp lý.
RFI : Về trường hợp của Thái Lan, như tiến sĩ cho biết, có sự phát triển mạnh hơn, tốt hơn của các tổ chức thuộc xã hội dân sự trong lĩnh vực này. Tiến sĩ có thể cho một ví dụ được không ?
Nguyễn Đình Thắng : Ví dụ như thế này. Khi một cơ quan công lực như cảnh sát, hoặc tuần duyên của Thái Lan nhận diện ra được ổ buôn người, thì trước khi giải cứu cho nạn nhân, họ báo động ngay cho một số tổ chức ngoài chính phủ. Khi họ giải cứu, thì cả hai bên đều có các nhân viên hiện diện để các nạn nhân được bảo vệ. Thay vì, nếu chỉ có cảnh sát vào giải cứu, thì biết đâu, cảnh sát nhận diện sai rằng, đây không phải nạn nhân, mà chỉ là những người vi phạm luật, do đó truy tố và trục xuất họ, trước khi có sự can thiệp của các tổ chức ngoài chính phủ.
Khi các tổ chức ngoài chính phủ can thiệp cùng với cảnh sát, thì họ có ngay các phương tiện tư vấn và bảo vệ, đưa về các nhà tạm trú chẳng hạn, rồi họ phối hợp với các cơ quan công lực, bắt đầu các cuộc phỏng vấn lấy cung để chuẩn bị cho việc truy tố. Đấy là « điểm son » ở Thái Lan, với sự phối hợp rất nhịp nhàng giữa các cơ quan công lực và các tổ chức ngoài chính phủ.
Ở tại Thái Lan, nếu những người lao động gặp trở ngại, bị bóc lột, bị quỵt tiền lương, tai nạn lao động, chủ lao động không bồi thường, hoặc không có bảo hiểm sức khỏe, thì họ có thể liên lạc với các công đoàn, các tổ chức xã hội dân sự từ thiện như nhà chùa, nhà thờ (nếu có các hoạt động xã hội tại đây), các hội thánh Tin Lành. Thành ra họ cũng được bảo vệ. Tuy nhiên, trở ngại lớn đối với những người lao động là họ đến từ các quốc gia mà quyền lợi như một công dân, hay một công nhân không được bảo vệ, nên họ vốn không hiểu được các quyền lợi của mình. Còn một trở ngại thứ hai nữa là ngôn ngữ.
RFI : Thưa tiến sĩ, tóm lại, như tiến sĩ cho biết, so sánh trong mặt bằng các nước Asean, tạm gọi là phát triển hơn, thì Malaysia là nước có nhiều « vấn đề » về lao động nhất, mà đây có thể coi là nước mà Việt Nam gửi nhiều lao động nhất. Như vậy, chắc rằng trong tương lai tổ chức của tiến sĩ sẽ có rất nhiều việc phải làm trong lĩnh vực này, có đúng không ?
Nguyễn Đình Thắng : Vâng, chúng tôi chọn Malaysia làm thí điểm, vì Malaysia là nơi có đông đảo công nhân lao động Việt Nam ngoài nước nhất trên thế giới. Quốc gia thứ hai cũng đông người Việt là Đài Loan. Nên Camsa (Liên minh bài trừ nô lệ mới tại Á Châu) chọn hai quốc gia này làm nơi hoạt động tiên khởi. Trong thời gian tới đây, chúng tôi có ba trọng tâm hoạt động tại Malaysia, cũng như tại Đài Loan.
Trọng tâm thứ nhất là tiếp tục thúc đẩy chính quyền thực thi một cách nghiêm chỉnh các đạo luật mà họ thông qua về vấn đề phòng và chống buôn người.
Thứ hai là, thông tin, hướng dẫn cho người lao động Việt Nam để hiểu về quyền và lợi ích, theo luật Chống buôn người và luật Lao động Mã Lai, cũng như hướng dẫn làm sao họ có thể đi cầu cứu, nếu như họ không tự mình bảo vệ được quyền và lợi ích của mình.
Thứ ba là chúng tôi tập trung vào tạo dựng và phát triển năng lực, nội lực của các tổ chức ngoài chính phủ của Malaysia để họ có thể bảo vệ, giúp cho những người lao động một cách tốt hơn, hiệu quả hơn, để họ có tiếng nói mạnh mẽ hơn trong quan hệ đối tác với các cơ quan công quyền của Malaysia, và ảnh hưởng đến quá trình lập pháp, nhằm tu chính những khiếm khuyết của đạo luật hiện nay, nhằm hoàn thiện đạo luật phòng, chống buôn người của Malaysia.
RFI : Xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng.
Ðêm, của những cánh bướm Việt ở Malaysia
“Giá tiền thì tùy mấy anh muốn ‘tâm sự’ lâu hay mau. Tâm sự một tiếng đồng hồ, tụi em tính 400 RM; tâm sự nguyên đêm, tụi em tính 700 RM.” Cô gái tên Thủy nói thẳng với chúng tôi. “Bọn anh không muốn tâm sự ‘một giờ,” cũng không muốn ‘nguyên đêm,” chỉ muốn mời mấy em đi ăn tối, nói chuyện cho vui thôi.” Chúng tôi trả lời.

“Vậy, anh trả bao nhiêu?” Thủy hỏi.
“200 RM được không?” Chúng tôi ướm giá.
Thủy quay lại hỏi ý kiến hai người bạn. Cả hai gật đầu. Thế là tất cả chúng tôi, sáu người, kéo nhau ra khỏi Beach Club, đi bộ đến một quán pizza gần đó.
Ðêm, trung tâm Kuala Lumpur, nhộn nhịp khác thường. Ðêm trong tuần cuối năm 2009 ấy, theo thời giá, một RM, đơn vị tiền tệ Malaysia, có giá khoảng bằng 30 xu Mỹ.
Giá tiền 700RM cô gái đưa ra lúc đầu cho một đêm, khi chưa mặc cả, xấp xỉ 210 đô la.
***
Hai ngày trước đó, khi đón taxi từ phi trường về khách sạn Citrus, nằm ở khu trung tâm Kuala Lumpur, người tài xế bản xứ hỏi chúng tôi có muốn gặp “Vietnamese ladies” không. Chưa kịp trả lời, tay tài xế nói thẳng: “Toàn là mấy cô Việt Nam. Rẻ lắm!”
Beach Club nằm trên đại lộ Jalan P.Ramlee, ngay trung tâm thủ đô Malaysia, và được xem là “một trong những hộp đêm nổi tiếng bậc nhất” quốc gia này.
Chúng tôi, một người đến từ California; một nha sĩ, tên Chu Văn Cương, đến từ Houston, và một dược sĩ, tên Phạm Lê Hoàng Nam, đến từ Úc Châu, đón một chiếc taxi. Cả ba chẳng biết phải đi đâu. Ðến cái tên của cái club cũng không biết. Bèn hỏi người tài xế: “Chỗ nào có Vietnamese ladies?” Người tài xế đáp ngay: “À, Beach Club. Beach club, toàn con gái Việt Nam.”
Ðến cửa quán, chúng tôi hỏi người bán vé: “Ở đây có người Việt Nam làm việc không?” Người gác cổng khoát tay vào bên trong, trả lời bằng tiếng Anh: “Tất cả đều là con gái Việt Nam!”
Bước chân vào Beach Club, thấy rõ ràng sự phân chia của hai thế giới sắc tộc. Ðàn ông thì toàn là người có nước da nâu sậm hoặc đen, râu tua tủa, to như những người khổng lồ; phụ nữ thì toàn các cô gái trẻ, nhỏ thó, mắt lạnh lùng quan sát từng người khách bước vào.
Người ta nói, dân Á Châu “trông ai cũng giống nhau.” Nhưng người Á Châu, nhìn người nước mình, thế nào cũng nhận ra đó là người nước mình. Chúng tôi nhìn quanh, “có cái gì đó quen quen nơi khuôn mặt các cô gái.”
Chúng tôi chợt nhận ra, “nét quen quen” ấy chính là “nét Việt Nam” trên khuôn mặt các cô gái trẻ.
Không hẳn toàn bộ các cô gái làm việc tại Beach Club đều là người Việt Nam. Nhưng, chúng tôi ước lượng, có không dưới 90% là “người nước mình.” Sau này, chúng tôi sẽ biết, họ đến từ mọi miền đất nước. Ba cô gái mà chúng tôi mời đi ăn tối, đại diện cho cả ba miền: Hà đến từ Hải Phòng; Kim đến từ Ðồng Tháp; và Thủy gốc người Nha Trang.
Chúng tôi bước vào Beach Club, loay hoay mãi mới có một chỗ ngồi. Ngồi đợi, khá lâu, chẳng thấy ai đến hỏi thăm. “Không biết mình trông có quê mùa không mà ai cũng chê?” Tôi tự hỏi. Rồi đây, khi đi riêng với các cô Thủy, Hà, Kim, tôi mới hiểu lý do tại sao chúng tôi không được đón tiếp niềm nở ở cái hộp đêm “quốc tế” này.
Thấy chúng tôi ngơ ngác nhìn xung quanh, một cô lên tiếng trước, cụt lủn: “Hello.” Chúng tôi đáp lại: “Hello. Em người Việt Nam?” Cô gái khựng lại, ngập ngừng, quay sang một cô khác: “Ðụng hàng rồi!”
Rồi cô quay lại chúng tôi, xưng tên Thủy, và ngỏ ý muốn tiếp chúng tôi. Thủy đề nghị để cô tìm thêm hai cô bạn nữa, cùng ngồi. Chúng tôi có thêm Hà và Kim.
Chúng tôi “ngã giá,” 200 RM mỗi người để được mời các cô đi ăn tối và nói chuyện khoảng 30 phút. Cả sáu người bước ra khỏi quán trong cái nhìn tò mò của tất cả các cô gái còn lại. Thủy quay lại, nói với cùng đồng nghiệp: “Chồng tụi em đây!”
***
Trong số ba người bạn mới quen, Thủy là người bộc trực, mạnh mẽ, và ăn nói liếng thoắng nhất. Nhưng, càng tiếp xúc, chúng tôi càng nhận ra, ẩn giấu phía sau sự tự tin ấy là một tâm hồn yếu đuối, đầy mặc cảm và dễ tan vỡ. Một ai đó nhắc đến chữ “hạnh phúc,” nét mặt Thủy đanh lại. Cô khoát tay: “Trên đời này, cái gì cũng có, trừ hạnh phúc.”
Mặc dầu hết sức cẩn trọng khi tiếp chuyện với chúng tôi, đặc biệt đối với các câu hỏi về đời tư, Thủy buột miệng sau khi khẳng định “trên đời này cái gì cũng có, trừ hạnh phúc.” “Gia đình em tan vỡ cách đây vài tháng, và em bước chân vào nghề này cũng mới vài tháng. Ba em vừa mới mất, gia đình lâm vào hoàn cảnh khó khăn, rồi em sang đây, đi làm.”
Các cô, chia thành nhóm nhỏ vài người, hùn tiền, nhờ người bản xứ đứng tên và thuê một căn phòng nhỏ trong các chung cư. “Ðêm đi làm đến gần sáng mới về. Ngày thì ngủ vùi, ngủ suốt. Ðói bụng thì cơm hàng cháo chợ. Rồi đêm xuống lại ra đây làm việc.” Thủy cho biết. “Mấy anh đừng thấy tụi em ăn mặc đẹp đẽ như vầy mà tưởng tụi em vui...”
Thỉnh thoảng, cô lại tỏ vẻ khó chịu khi chúng tôi hỏi các câu hỏi về đời tư, “Tụi mình nói chuyện gì khác đi. Ðừng hỏi chuyện gia đình.” Ngồi chung bàn, các cô Hà và Kim cũng tế nhị né tránh các câu hỏi đời tư. Không một ai muốn một ai khác tình cờ biết được gốc gác của mình. Và đó cũng là lý do tại sao chúng tôi phải chờ mãi ở Beach Club mới có người đến hỏi thăm. Hình như các cô, cũng như chúng tôi, nhìn thấy ở ba người thanh niên bước vào quán “nét Việt Nam, quen quen!”
“Tụi em không muốn tiếp người Việt Nam. Nhưng không hiểu sao lại đi với mấy anh...” Thủy nói.
Ngồi ở hai góc bàn là các cặp Nam-Hà và Cương-Kim. Cả bốn người cũng nói rất nhỏ, về gia cảnh của nhau.
Tất cả đều có điểm chung, là đằng sau những gương mặt còn rất trẻ ấy, bên trong những bộ đồ rất đẹp đang mặc trên người, là những câu chuyện đầy bất hạnh. Vừa đổ vỡ, vừa bế tắc, các cô sang đây mà lòng cứ nhớ về nhà, với câu hỏi như lời khẳng định, “Ai mà không muốn ở nhà, phải không anh?”
Hà, tế nhị, nhưng cương quyết, từ chối trả lời mọi câu hỏi về đời tư. Tất cả những gì chúng tôi biết về cô, là cô đã từng có người yêu. Nhưng, “một sự đỗ vỡ ghê gớm lắm đã xảy ra.” Rồi cô quyết định sang Malaysia “làm việc.”
Qua những gì Hà nói, chúng tôi diễn dịch, cuộc sống của cô tại đây là chuỗi ngày vô cảm; không vui, không buồn, không ham muốn bất cứ điều gì, bất chấp mọi chuyện. Suốt ngày cứ ở trong nhà, cũng chẳng buồn nói chuyện với người cùng phòng, lặng lẽ như một chiếc bóng.
Chiếc bóng ấy, sẽ chờ ngày lùi dần, khi màn đêm buông xuống, lặng lẽ bước ra đường với bộ đồ thật đẹp. Nhưng, “đừng thấy tụi em ăn mặc đẹp đẽ như vầy mà tưởng tụi em vui...”
Kim, cô gái ngồi chung với Cương, xởi lởi hơn. Cô kể, khi lên tám tuổi, nhà có đám giỗ, cha cô nói ra chợ mua ít trái cây về cúng. Ông ra chợ, và chẳng bao giờ trở về. “Ba em bỏ em và gia đình từ khi em lên tám tuổi.”
Kim “đi làm” như thế này cũng vài tháng nay. Cô cho biết, từ Việt Nam, đi đến các nước trong khối ASEAN không cần phải có visa nếu cư ngụ dưới một tháng. “Bọn em đến đây, cố gắng làm việc trong một tháng. Sau đó về Việt Nam nghỉ ngơi, rồi lại sang một nước khác. Cứ như thế, xoay tua...”
Kim đã từng đến Singapore, có người yêu Singapore. Cô nói, rằng sẽ không bao giờ lấy chồng Việt Nam. “Ðàn ông Việt Nam không lo cho gia đình.” Cô khẳng định như vậy, sau khi kể cho chúng tôi câu chuyện về cha cô. Ông ấy nói, “đi mua trái cây về làm đám giỗ, và không bao giờ trở về nữa.”
Chúng tôi rời Beach Club lúc một giờ sáng. Phải năn nỉ lắm, các cô mới nhận số tiền 200 RM mỗi người, như đã thỏa thuận. Thủy thì ngần ngừ, rồi cầm lấy tiền. Kim thì nhất định không nhận: “Hay để bữa khác.” Còn Hà, chúng tôi phải vào tận bên trong quán. Nói mãi, cô mới cầm tiền.
Các cô trao cho chúng tôi số điện thoại, và cả email, hẹn “có dịp thì cứ liên lạc.”
Xe taxi đưa chúng tôi trở lại khách sạn. Và cũng trên chuyến taxi này, chúng tôi biết cuộc sống của các cô khó khăn ra sao. Người tài xế cho biết: “Beach Club này rất nổi tiếng. Trước đây, toàn con gái Thái Lan làm việc. Sau đó, mấy cô Philippines vào chiếm lĩnh. Vài năm gần đây, đến lượt mấy cô Việt Nam.”
Người tài xế nói, một cô Việt Nam vào, mang theo 4, 5 người bạn. Cứ như thế, bây giờ nói đến Beach Club là nói đến con gái Việt Nam. Khách thì toàn là người nước ngoài, họ đến đây, vì “con gái Việt Nam đẹp thật.”
Ðẹp để làm gì? Ăn mặc thật sang trọng, để làm gì? Khi mà mỗi lần bước lên taxi “đi tâm sự với khách,” là mỗi lần các cô phải đối mặt với nguy hiểm?
“Có đến hai tầng nguy hiểm,” Người tài xế nói. Có nhiều lần, chính các cô gọi cho anh sau khi “tiếp khách.” Có nhiều khách làng chơi hung bạo. Xong việc, họ không chịu trả tiền, lại đánh và cướp cả điện thoại của mấy cô Việt Nam. “Chính tôi cũng đã nhiều lần chở mấy em từ chỗ khách trở về Club này.”
Không ai muốn, hay dám, gọi cảnh sát để nhờ can thiệp. Và chính cảnh sát Malaysia cũng là nguồn nguy hiểm khác cho các cô gái Việt Nam.
Người tài xế taxi kể, “Ði taxi từ đây đến điểm hẹn cũng là thời gian nơm nớp lo sợ.” Bất cứ lúc nào, cảnh sát cũng có thể xuất hiện, chặn taxi và đòi kiểm tra giấy tờ các cô gái. Cảnh sát biết chắc chắn các cô làm nghề gì, và họ biết chắc chắn, đây là lúc có thể... kiếm tiền.
“Có cô nói với cảnh sát, rằng người đàn ông trong xe là bạn, nhưng cảnh sát hỏi lại, bạn gì mà người thì cầm hộ chiếu Việt Nam, người thì cầm hộ chiếu không phải Việt Nam?” Rồi cảnh sát nói rằng họ “nghi” các cô cầm giấy tờ giả, cần phải đưa về đồn cảnh sát, ngày mai gọi Tòa Ðại Sứ Việt Nam để xác minh.
“Không cô nào chịu về đồn cảnh sát. Họ biết họ không còn lựa chọn nào khác.”
Và đây là lúc cảnh sát Malaysia nháy mắt ra hiệu cho giới tài xế. Các tay tài xế taxi sẽ đóng vai trò trung gian, ra giá, mặc cả, thâu tiền cho cảnh sát, để được nhận hoa hồng, cũng từ cảnh sát.
Tiền, phải trao ngay. Không có tiền, phải ra ngân hàng, phải ra máy ATM. Không có ngân hàng, không có ATM, phải gọi bạn bè. “Phải làm tất cả những gì có thể, để có ngay tiền, trả cho cảnh sát.”
“Một lần như vậy, cảnh sát đòi 300 RM, và cho lại taxi 50 RM.”
Chúng tôi chia tay Hà, Thủy, Kim trong một khuya cuối năm Dương Lịch 2009. Một người trong nhóm nhắc lại lời của giới taxi, rằng “con gái Việt Nam đẹp lắm.” Thủy hỏi lại, “Người ta nói vậy, các anh có hãnh diện không?”
Cả ba chúng tôi đều yên lặng, không trả lời, cũng không nói với các cô rằng, trên đường từ phi trường về khách sạn, người ta đã nói, “Con gái Việt Nam rẻ lắm!”
Công nhân Việt ở Malaysia: Bị lừa dối ‘ngay từ Việt Nam’
MELAKA, Malaysia (NV) - “Thì làm ruộng chứ làm gì nữa!” Chị Ðợi nói với chúng tôi, mắt tròn xoe, như thể rất ngạc nhiên trước câu hỏi: “Chồng chị ở Việt Nam làm gì?” Chị Ðợi là một trong số hàng ngàn công nhân Việt Nam đang làm việc tại thành phố Melaka. Thành phố này nằm ở phía Nam Malaysia, bên bờ Tây bán đảo Malay cách đảo Sumatra của Indonesia bằng một eo biển nhỏ, tên thành phố được đặt cho eo biển Malacca.
Mà dường như ai cũng ngạc nhiên khi chúng tôi hỏi “vợ/chồng của anh/chị làm nghề gì tại Việt Nam.” Ðôi khi, hoàn cảnh khiến những chuyện bình thường không còn bình thường nữa! Chẳng hạn, chúng tôi hỏi anh Tới, một công nhân cũng đang làm việc tại Melaka: “Anh có gia đình chưa?” “Có rồi, vợ và một con ở Ðịnh Quán.” “Vợ anh làm gì?” Anh nhìn chúng tôi, ánh mắt hơi ngạc nhiên, rồi cười cười: “Ở nhà có ba con heo nái!”
Chúng tôi tiếp xúc với vài chục nam nữ công nhân Việt Nam tại Melaka trong hai ngày 29 và 30 tháng 12, 2009. Chúng tôi gặp để tìm hiểu về cuộc sống của họ; để rồi, chính chúng tôi cũng phải tự hỏi: tại sao họ ra đi, và tại sao họ vẫn chưa về lại Việt Nam?
Ðôi trai gái mà chúng tôi để ý nhiều nhất, và hỏi chuyện nhiều nhất là Triều và Phượng. Hai người, vừa qua tuổi đôi mươi, gặp nhau tại một nhà thờ Tin Lành ở Malaysia, và họ yêu nhau. Cả hai đều rất đẹp và thông minh. Nhìn họ, chúng tôi tự hỏi: Tại sao họ ra đi, và tại sao họ vẫn chưa về lại Việt Nam?
Chính họ, cũng như nhiều công nhân Việt Nam khác, không trả lời được câu hỏi này. “Sống cực khổ như thế này, em nghĩ sao?” Triều yên lặng, rồi nói: “Bọn em hay bảo nhau, cứ nhìn xuống, đừng bao giờ nhìn lên cả.”
Căn nhà đầu tiên mà chúng tôi ghé thăm đêm 29 tháng 12 là nhà của Triều. Nhà có sáu người, gồm cả hai công nhân Miến Ðiện. Căn phòng chung, không bàn, không ghế, chỉ có một chiếc tivi. Mọi người ngủ trong ba căn phòng nhỏ. Mấy căn phòng nhỏ, nhỏ đến nỗi, các công nhân phải kê giường tầng, để tiết kiệm không gian.
Nhà bếp, gắn liền với cầu tiêu, lúc nào cũng lấp xấp nước. Ði không khéo, có thể té vỡ mặt. Các bồn rửa mặt và rửa tay thì phải có thau hứng bên dưới. Nước dơ không đi vào ống cống, mà xuống các thau, rồi mang thau đi đổ.
Căn nhà được sáu người thuê chung, giá khoảng 200 RM, đơn vị tiền tệ Malaysia.
Bữa cơm tối có 10 người ăn. Triều đưa chúng tôi ra siêu thị. Chúng tôi đề nghị được chiêu đãi tất cả mọi người. Về nhà, Triều nói: “Cả đời em chưa bao giờ đi chợ nhiều như hôm nay.”
Bữa cơm có mặt của Ðịnh, một công nhân sống ở nhà khác, đến chơi. Ðịnh gốc người Hà Nội, âm thầm như một chiếc bóng. Ai nhờ mở tivi, Ðịnh mở tivi. Ai than âm thanh nhỏ, Ðịnh vặn lớn lên. Ðến khi có người than lớn quá, Ðịnh với tay lấy chiếc “remote control,” vặn nhỏ lại.
Bữa cơm tối có bia. Mọi người uống bia, trong khi Tới thú thật: “Thường thì bọn em uống rượu tự nấu bằng bột nở và đường.”
Chuyến đi xa khá mệt, tính ngả lưng ngay sau bữa ăn, thì Ðịnh lên tiếng: “Em mời mấy anh sang nhà chơi.”
Triều cười, giễu: “Các anh nên sang thăm nhà của Ðịnh, để biết thế nào là nhà.”
Nhà Ðịnh cách nhà Triều khoảng 100 thước. Cả bọn đi bộ trên các con đường cổ xưa của thành phố vốn là thuộc địa Bồ Ðào Nha hồi mấy trăm năm trước.
Không biết có nên gọi căn nhà của Ðịnh là nhà không. Nếu nhà là một công trình có bốn vách, bên trên có một cái trần, và một trong bốn vách có khoét cái lỗ gọi là cửa, thì nhà của Ðịnh đúng là... nhà: Bốn vách bằng tôn, trần nhà bằng tôn, và có cả một cái cửa.
Ðịnh mời mọc: “Các anh vào nhà chơi.” Chúng tôi nhìn trước nhìn sau, thầm nghĩ: “Làm sao mà vào?” Bên trong căn nhà là một tấm nệm, nóng hầm hập, và tấm nệm ấy chiếm toàn bộ diện tích. Tất cả các đồ đạc khác được treo vòng vòng trên bốn vách tôn.
Nếu đây là một cái nhà, thì chủ nhà phải là người rất hiếu khách. Ðịnh loay hoay pha nước, lại mời: “Các anh vào nhà chơi, dùng nước.”
Chúng tôi xin phép về sớm vì còn nhiều nơi phải đi. Chúng tôi về sớm còn vì một lý do khác: căn nhà nóng quá.
Ngoài cái nóng của khí hậu, căn phòng lại nằm sát một phòng hấp cửa sắt sau khi sơn. Chủ nhà nói rằng, bên trong phòng hấp ấy, buổi tối nhiệt độ chỉ còn... 170 độ C. Cách nhiệt có tốt đến đâu, căn nhà của Ðịnh cũng không thoát khỏi cơn nóng từ căn phòng chỉ cách có một sải tay.
Cũng còn một lý do khác để ra đi: Tối hôm ấy, Hoàng, bạn cùng nhà với Ðịnh, có bạn gái ghé thăm. “Nhà có hai đàn ông. Người nào có bạn gái đến thăm thì người kia phải đi ngủ lang.”
Hôm ấy, Ðịnh sang ngủ lang tại nhà Triều, cùng với chúng tôi.
Rời nhà Ðịnh, chúng tôi sang một căn nhà khác, đặc biệt không kém. Một người dặn trước: “Các anh đến một tý thôi, để các chị ngủ sớm, ngày mai đi làm.”
Ðó là căn nhà của 30 nữ công nhân Việt Nam, những người “đi làm từ 8 giờ rưỡi sáng đến 10 giờ rưỡi tối, và hơn hai năm nay chưa được nghỉ một ngày.”
***
Trời nóng, mà chị Phương ra đón chúng tôi lại mặt áo len. “Người em cứ sốt, lại khàn giọng và ho.” Chị Phương lộ vẻ lo lắng. Chúng tôi bước vào nhà, các nữ công nhân đã treo mùng, đã đắp mền, chuẩn bị ngủ.
Có khách, các chị lao xao; người thì từ trên cầu thang, nhìn xuống chào một tiếng; người thì loay hoay trở mình ngồi dậy. Người đầu tiên mà tôi tiếp chuyện là chị Ðợi, có vẻ lớn tuổi nhất trong nhà. Chị cho biết đã có chồng và ba con, sống tại Thanh Hóa.
“Chồng chị làm nghề gì?” Tôi hỏi.
“Thì làm ruộng chứ làm gì nữa!” Chị trả lời, mắt tròn xoe.
Căn nhà này đúng nghĩa là nhà: hai tầng, bê tông hẳn hoi. Nhưng, nhà có phải là nhà không, còn tùy cách ở. Trong toàn bộ diện tích này, các chị, các cô chia ra thành 30 phần không gian, đặt vào đó 30 chiếc giường. Căn nhà này chỉ dùng để ngủ.
“Cũng may, mới có 16 người về nước, nay chỉ còn lại 14 người.” Chị Phương giới thiệu.
“Mọi người đi làm từ 8 giờ rưỡi sáng đến 10 giờ rưỡi tối. Về mới bắt đầu cơm nước. Có hôm mệt quá, ăn đại mì gói hay bánh mì. Có khi chẳng ăn gì, cứ để bụng đói nằm lăn ra ngủ.”
Có một dãy tủ được dựng dọc theo tường. Một người cho biết xuất xứ, mấy cái tủ ấy được các chị vớt về trong cơn lũ vừa qua. “Cũ người, mới ta!”
***
Hình như ai cũng có một điều gì đó để thắc mắc, mà không thể tự trả lời. Họ thắc mắc, vì nhiều điều trong hợp đồng lao động không được tôn trọng. Và họ là phía chịu thiệt thòi.
Chị Phương là một ví dụ. “Sốt và ho triền miên, nhưng chỉ được khám bệnh qua loa, cho vài viên thuốc.” Chị Phương làm việc gần ba năm tại một nhà máy giấy.
Anh Ðịnh là một ví dụ khác. “Phía chủ nói sẽ cung cấp chỗ ở.” Và cái căn nhà 5 vách tôn, nóng hầm hập ở ngay xưởng làm việc ấy, là chỗ ở mà người ta cung cấp.
Hợp đồng thì nói mỗi tháng làm việc 26 ngày, ngày tám tiếng, lương 20 RM/ngày. Tiền phụ trội trước sau gì cũng bị trừ đầu này, đầu nọ. Làm thêm mà thu nhập cứ như làm bình thường.
Giới chủ thì vẫn tiếp tục trừ mỗi tháng từ 100 đến 150 RM tiền “thuế lao động,” trong khi luật mới đã bãi bỏ thuế này từ hơn nửa năm nay.
Và hộ chiếu của tất cả công nhân đều “được” giới chủ “giữ giùm.”
Với điều kiện sống như vậy, tại sao họ không về nước? Tại sao vẫn có người tiếp tục từ Việt Nam sang đây?
“Có nhiều ràng buộc.” Các công nhân cho biết.
Hợp đồng lao động kéo dài ba năm, bỏ việc trước khi hợp đồng hết hạn thì trước mắt là mất số tiền lên đến 20 triệu đồng, đã đóng trước cho các công ty môi giới tại Việt Nam.
Bỏ việc, đồng nghĩa mất số tiền $350 chi phí cho môi giới Malaysia, mà chi phí này lại do chính phủ Việt Nam ra “công văn hướng dẫn.”
Bỏ việc tức là mất thêm $300 nữa, tiền “phí quản lý” mà môi giới Việt Nam “tạm thu” theo một nghị định do chính phủ Việt Nam ban hành.
Bỏ việc tức là mất cả tiền vé máy bay, mất luôn chi phí xin visa.
Một công nhân còn nói: “Cho dầu làm hết hợp đồng, trở về nước đúng luật, đòi số tiền đặt cọc trước đó, cũng có được đâu.”
Một bản hợp đồng do công ty môi giới Việt Nam ký với người lao động cho thấy, người lao động bị đẩy vào thế bị động trong mọi tình huống, từ trước khi họ lên máy bay, sang Malaysia làm việc.
Chúng tôi hỏi Triều, rằng trước khi sang Malaysia làm việc, anh có đọc kỹ hợp đồng không. Anh nói: “Người ta ấn vào tay bọn em bản hợp đồng chỉ 15 phút trước giờ máy bay cất cánh.”
“Bọn em bị lừa dối rất nhiều.” Triều kết luận.
“Lừa dối rất nhiều,” chúng tôi hỏi, “nếu phải chọn ra sự lừa dối lớn nhất, thì đó là đâu?”
Triều trả lời, không chút đắn đo: “Ngay từ Việt Nam!”
medium_melaka_02.JPG

Các chị trong căn nhà gồm 30 nữ công nhân “đi làm từ 8 giờ rưỡi sáng đến 10 giờ rưỡi tối, trong hai năm chưa nghỉ một ngày.” (Hình: Ðông Bàn/Người Việt)

medium_melaka_01.JPG

Căn phòng chỉ vừa đủ trải một tấm nệm, là “nhà” của Ðịnh và Hoàng. (Hình: Ðông Bàn/Người Việt)

medium_melaka_03.JPG

Căn bếp của 30 nữ công nhân sống chung trong một căn nhà tại Melaka, Malaysia. (Hình: Ðông Bàn/Người Việt)

medium_melaka_04.JPG

Mọi người khuyến khích nhau “hãy giữ vệ sinh sạch sẽ. Trách nhiệm không của riêng ai.” (Hình: Ðông Bàn/Người Việt)
Phóng sự dưới đây do phóng viên Ðông Bàn thực hiện nhân chuyến sang Malaysia tham dự Hội Thảo của Ủy Ban Bảo Vệ Người Lao Ðộng Việt Nam, được tổ chức trong hai ngày 28 và 29 tháng 12, 2009. Vì sự an toàn của người lao động, danh tánh các công nhân trả lời phỏng vấn đã được thay đổi.
Chuyến đi Malaysia của Ðông Bàn được bảo trợ bởi:Luật Sư Nguyễn Hoàng DuyênPhó khoa trưởng Học Vụ, Ðại Học Luật Khoa Lincoln - San Jose
Văn phòng chính tại:1569 Lexann Ave., Suite 132San Jose, CA 95121Tel: 408-528-7668
Website:
www.duyenlaw.com
Phóng sự của Ðông Bàn/Người Việt (từ Kuala Lumpur)
Malaysia: Gái Việt đi diễn hành ở hàng quán để đàn ông chọn lấy vợ
medium_VN-buonnguoi-MaLai.jpg

Ông Michael Chong, giám đốc Sở Khiếu Nại và Phục Vụ Cộng Ðồng, trưng tấm quảng cáo có in hình của các cô gái Việt Nam được giới thiệu cho đàn ông Malaysia chọn làm vợ. (Hình: theo Star)

KUALA LUMPUR 19-12 (TH) - Hàng chục cô gái Việt Nam đã diễn hành như kiểu tuyển lựa sắc đẹp để đàn ông Malaysia chọn lấy làm vợ, bản tin của tờ Star ở nước này loan tin và nói sự kiện đã làm cho tổ chức bảo vệ nhân phẩm phụ nữ địa phương ghê tởm.
Trước đây, người ta chỉ thấy tin tức nói từng đoàn đàn ông Ðài Loan hoặc Ðại Hàn đến Việt Nam để lựa chọn các cô trinh nữ làm vợ cũng theo cung cách trình diễn như vậy. Hàng chục cô gái phải trần truồng đi trước mặt để cho đàn ông ngọai quốc soi mói chấm điểm, chọn lấy người nào ưng ý nhất cho số tiền vài ngàn đô la họ bỏ ra để mua mà gia đình cô gái chẳng còn lại bao nhiêu khi qua nhiều tầng nấc “cò”.
Không thấy tờ báo Star nói các cô gái Việt Nam diễn hành trong các hàng quán ăn uống ở Malaysi ăn mặc thế nào, hay có phải khoe hết thân thể để người ta chọn như chọn cá, chọn rau hay không.
Không như những người đàn ông Ðài Loan, Ðại Hàn già đáng tuổi cha tuổi ông hoặc tật nguyền, phải đến Việt Nam để lựa chọn, các cô gái Việt Nam được đưa sang Malaysia để trình diễn tập thể để người đàn ông xứ này không phải đi xa. Theo lời một chính trị gia Malaysia, Michael Chong, chống cái trò buôn người trá hình này, mỗi gia đình cô gái nghèo khổ nhận được hồi môn từ 20,000 đến 30,000 ringgit (tương đương $5,600 đến $8,500) tùy nhan sắc. Nhưng thật sự đến tay gia đình của họ bao nhiêu, không ai biết.
Ông Chong nói với tờ Star rằng phần lớn những người Mã Lai xem mắt các cô gái Việt là những người góa vợ giàu có hay ly dị.
Tổ chức bảo vệ nhân phẩm phụ nữ địa phương cảm thấy chấn động trước khuynh hướng chọn vợ kiểu này.
“Hành vi này có thể được xếp vào hình thức nô lệ tình dục núp dưới khung pháp lý giả tạo.” Maria Chin Abdullah, người đứng đầu tổ chức nữ quyền ở Malaysia, phát biểu.
Tháng Năm năm 2006, một vụ bán đấu giá gái Việt Nam đã diễn ra ở xã Rawang, Malaysia. Báo chí Malaysia, Singapore, Anh Quốc loan tin rồi báo bên Việt Nam đăng lại gây xôn xao dư luận. Trước đó, một số cô gái Việt Nam cũng được rao bán đấu giá trên website eBay ở Ðài Loan gây phản ứng phẫn nộ của người Việt hải ngoại khắp nơi.
Tháng Ba năm 2006, một số người ở Sài Gòn và Tiền Giang đã bị bắt vì tổ chức đường dây buôn hàng chục cô gái sang Malaysia. Ngày 28 Tháng Ba 2006, 23 cô gái cùng mấy người thuộc đường dây buôn người đã bị bắt giữ tại 2 địa điểm ở Sài Gòn khi những người này chuẩn bị lên đường sang Malaysia. Công an dịp này đã thu giữ lối 50 hộ chiếu.
Theo một tổ chức xã hội ở Sài Gòn được Tân Hoa Xã tường thuật ngày 8 Tháng Ba, 2006, trong năm 2005 có khoảng 6,000 phụ nữ và trẻ em Việt Nam bị bán ra ngoại quốc. Trẻ em gái Việt Nam, tuổi có thể nhỏ từ tám, chín tuổi đã bị bán cho các động mãi dâm ở Cambodia. Mục Sư Ngô Ðắc Lũy, người làm cho tổ chức quốc tế ở Phnom Penh, Cambodia, cho đài RFA hay ngày 14 Tháng Ba, 2006 rằng “tình hình buôn bán phụ nữ và trẻ em gái Việt Nam bị bắt cóc, lừa gạt, buôn bán để đưa vào làm nô lệ tình dục ở các ổ mãi dâm Cam Bốt, bao gồm Phnom Pênh và các đô thị có những tham quan du lịch khác, đã lên mức hết sức báo động.”
Ngày 20 Tháng Bảy 2006, báo Lao Ðộng tường thuật một vụ tuyển vợ cho 13 đàn ông Hàn Quốc diễn ra ở Cần Thơ ngày 18 Tháng Bảy, 2006 với sự trình diễn của hơn 100 cô gái.
Ngày 22 Tháng Sáu, 2006, hãng thông tấn chính thức Hà Nội loan tin 165 phụ nữ gốc tỉnh Tây Ninh lấy chồng ngoại quốc đã bỏ về nước ôm theo 56 đứa con. Lý do bỏ chạy là “phần lớn do chồng đánh đập tàn nhẫn, số còn lại cuộc sống vợ chồng không phù hợp phong tục tập quán, bất đồng ngôn ngữ...”
Bao nhiêu người bị lường gạt của cải, bóc lột công sức, cuối cùng thì tiền mất tật mang, tán gia bại sản, và cũng đã có rất nhiều trường hợp mất mạng hay tật nguyền. Mời quý vị theo dõi câu chuyện về nguy cơ mà lao động Việt Nam phải chịu đựng, qua cuộc trao đổi với Tiến sĩ Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc điều hành Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển (BPSOS), đang công tác tại Đông Nam Á.
Cảnh sát Malaysia vừa giữ 6 cô gái Việt Nam vì nghi ngờ họ làm nghề mại dâm sau khi nhập cảnh bằng visa du lịch.
Phụ nữ và tất gợi cảm. Ảnh minh họa của Corbis.
Phụ nữ và tất gợi cảm. Ảnh minh họa của Corbis.
Lực lượng an ninh bang Penang đột nhập một khách sạn hôm 18/11 và bắt các cô gái đều ở tuổi đôi mươi này, cùng hai người đàn ông địa phương.
DPA cho hay cảnh sát đang làm rõ liệu hai người đàn ông này có phải là kẻ môi giới và thuộc đường dây mua bán dâm của các cô gái hay không.
Theo luật pháp Malaysia, mua bán dâm là bất hợp pháp. Những kẻ dẫn mối có thể bị phạt 540 USD và ngồi tù một năm. Người nước ngoài phạm tội thì bị trục xuất.

Hiện tượng nô lệ mới

Đỗ Hiếu : Xin ông cho Đài chúng tôi biết về tình trạng của người lao động Việt Nam tại Malaysia, hiện nay có chừng bao nhiêu người đang có mặt và làm việc nơi đây, thưa ông?
TS Nguyễn Đình Thắng : Hiện nay chúng tôi ước lượng khoảng 80 ngàn tới 100 ngàn công nhân Việt Nam đang lao động tại Mã Lai. Đó là nơi tập trung đông đảo công nhân Việt Nam nhất ở trong tất cả các quốc gia mà có nhận người Việt đi lao động. Vào thời cao điểm của vấn đề lao động ở Mã Lai thì chúng tôi ước lượng khoảng 100 đến 110 ngàn công nhân, tuy nhiên do nền kinh tế suy thoái hiện nay mà nhiều công nhân bị nghỉ việc cũng như nhiều hãng xưởng tại Mã Lai không nhận thêm công nhân từ Việt Nam, do đó tôi ứơc lượng khoảng từ 80 ngàn đến 100 ngàn.
Nhưng trở ngại mà họ đang phải đối đầu, thứ nhất là hoàn toàn không có sự bảo vệ về vấn đề quyền lợi của công nhân khi mà họ gặp những trở ngại do chủ nhân gây ra như không tôn trọng hợp đồng hoặc là bóc lột sức lao động của họ như không trả tiền lương, hoặc gặp nhiều trở ngại khác trong vấn đề lao động, thì họ không biết nơi nào để cầu cứu.
Sự thiếu sót về sự bảo vệ pháp lý ở cả hai quốc gia, quốc gia gốc cũng như quốc gia tiếp nhận là Mã Lai, do đó rất nhiều công nhân Việt Nam đã bị bóc lột một cách thậm tệ đến mức độ có thể xem như là trong tình trạng gọi là nô lệ thời đại mới, như vậy được xem là bị buôn người.
TS.Nguyễn Đình Thắng
Họ liên lạc với Toà Đại Sứ Việt Nam ở tại Kuala Lumpur thì phần lớn không nhận được sự trợ giúp. Thứ hai, khi họ liên lạc về Việt Nam để kêu gọi các công ty môi giới đã đưa họ sang Mã Lai thì các công ty môi giới này phần lớn là phủi tay và không nhận trách nhiệm.
Đỗ Hiếu : Chúng tôi nghe nói là có xảy ra tình trạng buôn người ở Malaysia, vậy người lao động Việt Nam có gặp những trở ngại hay nguy cơ gì không ?
TS Nguyễn Đình Thắng : Rất nhiều, bởi vì thứ nhất ở tại Mã Lai thì luật lệ Mã Lai thường là bênh vực cho chủ nhân và rất là không để ý đến, không quan tâm đến những người gọi là "khách thợ" tức là họ đến làm việc tại Mã Lai từ một quốc gia khác. Thứ hai, ngay tại Việt Nam thì luật lệ Việt Nam cũng không bảo vệ cho những công nhân - công dân của mình khi được xuất khẩu lao động sang các quốc gia khác. Chính vì vấn đề đó, sự thiếu sót về sự bảo vệ pháp lý ở cả hai quốc gia, quốc gia gốc cũng như quốc gia tiếp nhận là Mã Lai, do đó rất nhiều công nhân Việt Nam đã bị bóc lột một cách thậm tệ đến mức độ có thể xem như là trong tình trạng gọi là nô lệ thời đại mới, như vậy được xem là bị buôn người.
Chúng tôi lấy một ví dụ điển hình ở tại vùng Penang mà thôi. Tỉnh Penang, nơi đó có khoảng 7 ngàn công nhân Việt Nam ở toàn tỉnh Penang, cho tới hiện nay chúng tôi đã can thiệp cho khoảng gần 3 ngàn rồi, có nghĩa là khoảng 40% đã là nạn nhân của sự buôn người. Gần như tuần nào văn phòng của chúng tôi đều có nhận thêm một vài cú điện thoại cầu cứu và cái đó cho thấy rằng có lẽ cái tỷ lệ những công nhân Việt bị rơi vào thảm cảnh buôn người rất là cao ở tại Mã Lai.

Can thiệp và trợ giúp của Boat People SOS

Đỗ Hiếu : Thưa ông, Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển đã làm được những điều gì và có thêm dự tính gì khác trong tương lai hầu giúp đỡ người lao động Việt Nam đang gặp khó khăn không?
TS Nguyễn Đình Thắng : Bắt đầu cuối năm 2005 chúng tôi đã quan tâm đến vấn đề tình trạng buôn người mà rất nhiều công nhân Việt Nam là nạn nhân. Chúng tôi đã sang Mã Lai rất nhiều lần để nghiên cứu, để tiếp xúc với các tổ chức dân sự, với Toà Đại Sứ Hoa Kỳ, với một số toà đại sứ khác ở Kuala Lumpur.
Bắt đầu cuối năm 2005 chúng tôi đã quan tâm đến vấn đề tình trạng buôn người mà rất nhiều công nhân Việt Nam là nạn nhân. Chúng tôi đã sang Mã Lai rất nhiều lần để nghiên cứu, để tiếp xúc với các tổ chức dân sự, với Toà Đại Sứ Hoa Kỳ, với một số toà đại sứ khác ở Kuala Lumpur.
TS.Nguyễn Đình Thắng
Và đầu năm 2008 chúng tôi đã phối hợp với một số tổ chức khác ở ngoại quốc cũng như ngay tại bản địa Malaysia để lập ra Văn Phòng Hỗ Trợ Công Nhân Việt Nam trên toàn quốc Mã Lai, và từ đó đến nay văn phòng này đã can thiệp cho khoảng trên 40 vụ lớn nhỏ khác nhau, tổng cộng là trên 3 ngàn công nhân đã được can thiệp, giải cứu và hỗ trợ.
Công việc kế tiếp chúng tôi dự trù là phát triển các nỗ lực mà đã rất thành công ở tại Penang ra toàn quốc Mã Lai; chính vì lý do đó mà cách đây một tháng chúng tôi đã mở thêm một văn phòng ở tại Kuala Lumpur và có tuyển một luật sư người Mã Lai để làm người quản trị chương trình chống buôn người trên toàn quốc Mã Lai. Tôi cũng sang Mã Lai để tiếp xúc với Chính Phủ Mã Lai, tiếp xúc với các tổ chức Liên Hiệp Quốc và những tổ chức dân sự ở Mã Lai để mở rộng tầm hoạt động, bởi vì có tổng cộng 80 ngàn đến 100 ngàn công nhân, rất nhiều người Việt ở khắp mọi nơi trên lãnh thổ Mã Lai đang cần sự trợ giúp
Đỗ Hiếu : Đài Á Châu Tự Do chúng tôi xin cám ơn TS Nguyễn Đình Thắng, Giám Đốc điều hành Uỷ ban Cứu Người Vượt Biển đã dành cho chúng tôi cuộc trao đổi hôm nay.
TS Nguyễn Đình Thắng : Chúng tôi rất chân thành cảm ơn Đài Á Châu Tự Do đã cho chúng tôi cơ hội để trình bày về một thảm cảnh mà càng ngày càng đông những người Việt đi lao động nước ngoài đang phải đối phó một mình, đó là tình trạng buôn bán lao động đang rất phổ cập không những ở Mã Lai mà còn ở nhiều nơi khác trên thế giới.
Đỗ Hiếu RFA, Kuala Lumpur, Malaysia
Công nhân Việt Nam ở Malaysia gặp khó
Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng mạnh tới nền kinh tế của Malaysia trong năm 2008 và đầu năm 2009, khiến nhiều nhà máy thiếu việc làm, thậm chí phải đóng cửa, nhiều lao động nước ngoài mất việc làm phải về nước, trong đó có lao động Việt Nam.

Thời gian trên, nhiều lao động Việt Nam đã về nước vì hết hợp đồng lao động hoặc về trước thời hạn vì không có việc làm, nên nhiều doanh nghiệp tuyển dụng lao động của Việt Nam cũng rút đại diện về nước để cắt giảm chi tiêu.

Vì vậy, khi có rắc rối về quyền lợi giữa nhà máy và người lao động xảy ra, không ai đứng ra giải quyết bênh vực quyền lợi cho người lao động, trong đó có vụ việc liên quan tới 31 lao động Việt Nam do Tổng công ty xây dựng Hà Nội (Hancorp) và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu tổng hợp Sơn La (Solgimexjsco) cung ứng cho nhà máy Spektra Alucast tại bang Selangor từ tháng 1/2007.

Trong 6 tháng đầu năm 2007, số lao động nói trên vẫn được trả lương đều đặn với mức lương từ 800-1.000 ringgit (225-282 USD)/tháng.

Tuy nhiên, những tháng sau đó, sản xuất bị ngừng trệ nên họ chỉ được nhận tạm ứng 50-100 ringgit (14-28 USD)/người và từ tháng 6-12/2008, họ hoàn toàn không nhận được một đồng lương nào. Vụ việc đã gây bức xúc và khiến những công nhân này đình công.

Lãnh đạo nhà máy Spektra Alucast đã giải quyết cho một số người về nước và chuyển một số đến làm việc tại nhà máy khác.

Để bảo vệ quyền lợi cho người lao động, Ban Quản lý lao động Việt Nam tại Malaysia đã yêu cầu 2 doanh nghiệp Hancorp và Solgimexjsco phối hợp với nhà máy để giải quyết quyền lợi cho số lao động trên.

Hiện chỉ còn 7 người trong số này trở lại làm việc, nhưng từ 9 tháng nay họ vẫn chưa được nhà máy làm thủ tục gia hạn thị thực và hàng tháng vẫn bị chủ nhà máy khấu trừ tiền thuế vào lương.

Theo qui định của Chính phủ Malaysia, từ ngày 1/4/2009 các chủ lao động phải đóng khoản thuế thu nhập, trung bình 100 ringgit (29 USD)/ tháng, thay cho mỗi lao động nước ngoài mà họ tuyển dụng.

Theo con số thống kê của Cục Lao động Malaysia, hiện nay, số lao động hợp pháp của Việt Nam chỉ còn khoảng 55.000 người so với 110.000 năm 2006 và 2007./.
Năm người Việt bị bắn chết tại Malaysia
TP - Theo tờ The Star, có năm người Việt bị cảnh sát bắn chết tại km 17.5 trên đường cao tốc, cách lối ra Penati khoảng một km.Cảnh sát Malaysia xác định năm người bị bắn chết là Cao Hong Tuyen, Thai Ngoc Mung, Nguyen Manh Hai, Tran Manh Hung và Dinh Phong Duy. Họ đều ở độ tuổi từ 23 – 30.
Phó cảnh sát trưởng khu vực Penang, Datuk Yaakob cho biết họ nhận được tin báo qua điện thoại lúc 2 giờ 45 sáng 7/3 về một vụ cướp ở Kulim và thông báo với cảnh sát đang làm nhiệm vụ tuần tra.Xe tuần tra cảnh sát phát hiện chiếc Perodua Kanari màu bạc gần khu dịch vụ và nghỉ đỗ Penanti ở km 17 lúc 3 giờ 30. “Chiếc xe dừng lại, nhưng sau đó bỏ chạy trước khi cảnh sát có thể tiến hành kiểm tra”, ông Yaakob phát biểu với báo chí.Cảnh sát thông báo vụ việc trên bộ đàm và lập tức có thêm ba xe tuần tra tham gia cuộc truy đuổi tốc độ cao.Một trong các xe tuần tra của cảnh sát cố gắng vượt qua chiếc xe tình nghi đang từ Kulim chạy thẳng đến Seberang Jaya.
Theo tờ The Strait Times, trước khi cảnh sát hành động, một trong những người bị tình nghi trong xe nổ súng vào xe tuần tra. Cảnh sát bắn trả và cả năm người tình nghi trong xe đều thiệt mạng.Kiểm tra xe, cảnh sát phát hiện một khẩu súng ngắn, năm viên đạn, một kìm cắt sắt thép, một xà beng và hai mặt nạ. Theo ông Yaakob, cảnh sát tin rằng những người bị tình nghi này liên quan đến vụ cướp xảy ra ở Kulim trước đó.Cũng theo lời sĩ quan Yaakob, vụ cướp xảy ra tại một khu phòng trọ cho thuê dành cho lao động người Việt Nam ở Taman Perak lúc 2 giờ 25 sáng 7/3. “Tám tên cướp xông vào khu nhà nghỉ, trói và cướp tài sản của 11 lao động”. Cảnh sát cũng đang truy đuổi ba người bị tình nghi khác trong vụ cướp nhưng không có mặt trong xe.Chiếc xe chở nhóm người tình nghi được thông báo bị mất cắp ở Seberang Jaya ngày 20/10.Theo hãng thông tấn Bernama, cảnh sát Malaysia đang tiến hành chiến dịch đặc biệt mang mật danh Ops Rantau nhằm kiểm soát tội phạm nước ngoài, những người có thể phạm tội do bị mất việc làm khi nhiều công ty cắt giảm nhân công trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế.
Một băng đảng ở Malaysia, trong đó có một người Việt, chuyên đi thuê phòng khách sạn ở rồi đi ăn trộm, đã bị bắt.Toán trộm gồm 7 thành viên, trong đó có hai phụ nữ, bị bắt hôm thứ năm. Băng nhóm này bị cho là hoạt động ở Pahang, Selangor và Kuala Lumpur. 5 tên đã bị bắt tại một khách sạn, số còn lại bị bắt trong các cuộc vây ráp sau đó.Cảnh sát thu được hơn 50 thiết bị dùng để phá khóa và đột nhập cùng với ba chiếc ôtô mà nhóm này đánh cắp và sau đó dùng để hành nghề.(Theo tin247.com)
Sinh viên Việt ở Malaysia
Các bạn trẻ Việt Nam tự tin ở Malaysia - Ảnh: Đ.T. Hoàng Điệp
Nhằm giới thiệu văn hóa và con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế, ngày 25-11, Hội Sinh viên Việt Nam tại Đại học Nottingham Malaysia Campus đã cùng nhau tổ chức đêm hội văn hóa Việt Nam. Đây cũng là sự kiện đầu tiên đánh dấu sự ra đời của hội tại Malaysia.
Mở đầu là những trò chơi dân gian như nhảy sạp, đập heo, cướp cờ... với sự tham gia và ủng hộ nhiệt tình của bạn bè quốc tế đã đem đến bầu không khí náo nhiệt cho đêm hội. Tiếp đến là phần giới thiệu các món ăn truyền thống của người Việt Nam như bánh bèo, bánh xèo, chả giò... được các sinh viên Việt Nam xăn tay chế biến.
Phần cuối của đêm hội là buổi giao lưu văn nghệ với những tiết mục múa áo dài, múa nón, hát dân ca, những video clip về cuộc sống, con người Việt Nam xưa và nay. Đặc biệt còn có sự tham gia hát và múa của các bạn sinh viên nước ngoài với tiết mục Trống cơm, gây ấn tượng mạnh đối với các bạn sinh viên tại đây.
Với sự đoàn kết của toàn thể sinh viên Việt Nam tại đây, sự ủng hộ nhiệt tình của bạn bè quốc tế, đêm hội văn hóa Việt Nam đã gặt hái được những thành công tốt đẹp và thật sự mang đến bạn bè quốc tế một đất nước, con người Việt Nam vô cùng sinh động, gần gũi và giàu bản sắc dân tộc.
.Bà Đào Liên Hương, Giám đốc Cty du học Quốc Anh (IEC), người chắp nối cho cuộc gặp gỡ (từ ngày 10 đến 14/12/2007 tại Malaysia) giữa ông Trần Hồng Quân, nguyên Bộ trưởng GD&ĐT, nay là Chủ tịch hiệp hội các trường ĐH ngoài công lập ở VN và một số đại diện các trường ĐH dân lập VN với các trường ĐH tư thục Malaysia cho biết:Malaysia chưa phải là một nước mạnh về giáo dục nhưng họ đã rất mạnh dạn xuất khẩu nền giáo dục của mình sang các châu lục (hiện có tới hơn 60 nước gửi sinh viên sang du học tại đây).Giáo dục Malaysia có điểm mạnh là sự cạnh tranh về giá cả (chỉ khoảng 20.000 USD học phí cho một bằng ĐH và một số tiền tương tự cho bậc cao học, thậm chí chỉ 10.000 USD tuỳ thuộc vào ngành học), sự thân thiện về con người, giáo dục bằng tiếng Anh và bằng cấp được quốc tế công nhận.Cùng với việc có nhiều sinh viên và công nhân Việt Nam sang du học hay lao động tại Singapore và Malaysia trong những năm gần đây, các nhóm Công giáo Việt Nam đã và đang được hình thành tại những nước này. Ở Singapore, một cộng đoàn, mang tên Cộng đoàn Đức Mẹ La Vang Singapore, khoảng 100 người đã được hình thành. Bước đầu, cộng đoàn này chủ yếu là sinh viên, nhưng dần dần cũng có một số người đang sống tại Singapore hay từ Việt Nam, hoặc từ Úc, Đức sang làm việc tại đây gia nhập cộng đoàn.
90510Johor.jpg
Công nhân Công giáo VN ở bang Johor tham dự Lễ Phục Sinh
Trong khi ở Singapore chỉ có một cộng đoàn, ở Malaysia có đến hàng chục nhóm Công giáo đã và đang được hình thành.
Riêng tại bang Johor, giáp biên giới Singapore, đã có đến 10 nhóm đã được thành lập và mỗi nhóm quy tụ từ 50 đến 100 người.
Trong số các bang của Malaysia nhận công nhân Việt Nam, Johor là bang có nhiều công nhân Việt Nam nhất. Ước tính có đến hơn 20 ngàn công nhân Việt Nam đang làm việc tại bang này.
Vì các nhóm này đang trong giai đoạn sơ khai nên không có các cơ sở và cũng chưa được tổ chức một cách quy cũ và thường xuyên.
Ở Singapore, sau một thời gian phải đi mượn các nhà thờ khác nhau để tổ chức các thánh lễ giờ cộng đoàn này đã được một nhà hưu dưỡng (thuộc các nữ tu dòng Chúa Chiên Lành) tại Marymount cho mượn nhà nguyện và các cơ sở của họ để dâng lễ và các sinh hoạt khác.
Vào Chúa nhật thứ hai và thứ tư trong tháng, cộng đoàn có thánh lễ bằng tiếng Việt và các sinh hoạt khác tại đây.
Trong khi đó ở Malaysia, theo Cha Trần Văn Đợt, thuộc dòng Tên, người Úc, và hiện làm tuyên úy cho công nhân Việt Nam tại Malaysia, các giáo xứ Malaysia (chủ yếu gốc Hoa và Ấn độ) cho các nhóm người Việt mượn nhà thờ và các cơ sở để dâng lễ và sinh hoạt.
Cha Đợt là linh mục đầu tiên được chính thức cử làm tuyên úy cho công nhân Việt Nam tại Malaysia. Trước đây, thỉng thoảng cũng có một số linh mục tới Malaysia dâng lễ nhưng chỉ ở lại trong một thời gian ngắn rồi đi.
Nhu cầu tâm linh
90510singapore.jpg
Tác giả (ngoài cùng, bên trái) cùng nhóm Công giáo ở Singapore
Cũng giống như bao nhóm hay cộng đoàn Công giáo Việt Nam khác ở hải ngoại, các nhóm này được hình thành xuất phát từ nhu cầu tâm linh.
Anh Cao Hà Thắng, người Úc, hiện đang làm nghiên cứu và giảng dạy (research fellow) tại Đại học kỹ thuật Nanyang Technological University (NTU) và là một trong những thành viên trụ cột của cộng đoàn Công giáo người Việt tại Singapore, khi đến Úc cách đây ba năm, anh đã tìm đến một nhà thờ Công giáo để đi lễ.
Và tại đó anh và một số sinh viên Việt Nam khác được gặp một linh mục người Việt, Cha Gioan Nguyễn Văn Đích, thuộc Hội thừa sai Paris và đã sống ở Singapore trong 20 năm. Được sự hướng dẫn của Cha Đích, nhóm Công giáo từ đó được hình thành.
Ban đầu nhóm sinh viên này chỉ gặp nhau để sinh hoạt, chia sẻ với nhau sau các thánh lễ bằng tiếng Anh. Dần dần họ tổ chức các thánh lễ bằng tiếng Việt.
Bạn Bùi Quang Khôi, sinh viên năm thứ ba tại NTU cho biết: "Khi sang Singapore cách đây ba năm, tất cả mọi thứ đều xa lạ với em. Do đó, khi biết được cộng đoàn Công giáo Việt Nam và đến dự lễ bằng tiếng Việt, em cảm thấy mình được nâng đỡ nhiều, cảm thấy gần gũi với gia đình, người thân hơn".
Tương tự như vậy, những người công nhân Công giáo khi đến Malaysia cũng tìm đến với các nhà thờ Công giáo để tham dự lễ Chúa nhật hay các dịp lễ lớn.
Nhưng khác hẳn với những sinh viên ở Singapore, khi mới đến Malaysia các công nhân này tham dự các thánh lễ bằng tiếng Malaysia, Trung Quốc hay Ấn Độ và chẳng hiểu gì.
Thấy được hoàn cảnh đó, hơn nữa vì số lượng công nhân Công giáo tương đối đông, nên có một số linh mục từ các nước khác như Úc đã tìm cách ghé qua cử hành thánh lễ cho họ.
Và vì nhu cầu càng ngày càng lớn, Đức Cha Paul Tan, phụ trách Ủy ban Di dân của Hội Đồng Giám mục Malaysia đã chính thức mời cha Đợt sang làm tuyên úy cho công nhân Việt Nam tại Malaysia.
Theo cha Đợt, khi phải đương đầu với biết bao khó khăn (công việc nặng nhọc, lương quá thấp, thiếu an ninh), lại phải sống trong một môi trường hoàn toàn xa lạ, và không biết tiếng, những thánh lễ hay những buổi chia sẽ, những cuộc gặp là những món ăn hay chỗ dựa tinh thần cho họ.
Chị Hoàng Thị Sỹ, đã có gia đình và ba đứa con ở Nghệ An và đã sang Malaysia ba năm nhưng chưa một lần về thăm nhà nói: "Nhớ nhà, nhớ con vô cùng nhưng chẳng biết làm sao. Chỉ có những thánh lễ bằng tiếng Việt, hay những cuộc gặp gỡ, chia sẻ với nhau như thế này thì mới khuây khỏa được phần nào".
Nâng đỡ lẫn nhau
Những sinh viên hay công nhân này tìm đến với nhau không chỉ vì nhu cầu tâm linh mà còn để nâng đỡ, chia sẻ với nhau khi sống xa nhà.
Do đó, tại Singapore cũng như Malaysia, mỗi lúc có thánh lễ cũng là dịp họ gặp gỡ, sinh hoạt, vui chơi, ăn cơm chung với nhau.
Cha Đích cho biết: "Vì xa nhà xa người thân, những dịp lễ cũng là dịp để mọi người gặp nhau, nâng đỡ nhau bằng cách này hay cách khác".
Ở Malaysia, ngoài các thánh lễ và các sinh hoạt khác nhau sau và trước thánh lễ, các công nhân không có điều kiện và hơn nữa cũng vì vấn đề an ninh, họ không dám đi chơi một nơi nào khác.
Theo anh Trần Trương Quốc Bảo, thợ điện và cơ khí làm việc ở Malaysia từ bốn năm này và cũng là một trong những thành viên trụ cột của một nhóm Công giáo tại bang Juhor, đã có nhiều vụ cướp dật hãm hiếp xảy ra với công nhân Việt Nam trong thời gian gần đây.
Vì vậy, ngoài công việc ở xưởng, nhà máy của mình và các thánh lễ, hay sinh hoạt tại các nhóm, công nhân ít đi đâu.
Trong khi đó, vì có điều kiện hơn nữa ở Singapore rất an toàn, các thành viên của Cộng đoàn Việt Nam tại Singapore hay tổ chức những cuộc đi chơi.
Các thành viên của cộng đoàn cũng thường tổ chức những chuyến đi Malaysia để thăm hỏi, động viên các công nhân Công giáo bên đó.
Đoàn Xuân Lộc
Mại dâm Việt ở Singapore

Không có nhận xét nào: