Gõ tìm nội dung có liên quan

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2017

Brother Enemy (Anh em thù địch) của Nayan Chanda (Hết)

Đông Dương: Chiến tranh bao giờ chấm dứt?
Tất cả bắt đầu bằng một cái ngoặt tay bí mật với một nhân viên của Cơ Quan Mật Vụ Hoa Kỳ vào buổi tối ngày thứ Bảy, 13 tháng Giêng năm 1979. Tại cuối buổi họp chót của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, Thái Tử Sihanouk có các “đồng sự” Khmer Đỏ mặc đồ đen đi kèm và các nhân viên mật vụ, trên đường trở về nơi cư ngụ của ông ta tại khách sạn Waldorf-Astoria ở Nữu Ước. Vài người thấy đằng sau những nụ cười, những cái cúi đầu chào lễ phép và săn đón Sihanouk là một sự căng thẳng. Trong cầu thang máy đông đúc ở khách sạn, Sihanouk lặng lẽ nắm lấy bàn tay của một nhân viên mật vụ đứng bên cạnh ông ta. Người nầy hoảng hồn, nghĩ rằng ông hoàng muốn trao cho ông ta cái gì đó, giống như tiền, vào lòng bàn tay. Nhân viên nầy tính lên tiếng phản đối, nhưng khi nhìn vào đôi mắt khẩn cầu của Sihanouk và cái lắc đầu bí mật, nhân viên ấy bỏ số “tiền” vào túi. Những người Khmer Đỏ đi kèm Sihanouk tưởng rằng ông ta cho họ tiền thưởng. Sau nầy họ khám phá ra việc đó không phải như họ nghĩ.
Kể từ khi Sihanouk đến Nữu Ước hôm 9 tháng Giêng đến hôm đó là bốn ngày, ông ta bận bịu vì họp hành, họp báo, phỏng vấn, và diễn văn nhưng ngủ thì rất ít. Giới truyền thông, với rất ít tin tức từ trong Cam Bốt chuyển ra, muốn biết thêm chi tiết về những “lò sát sinh”, đã chất vấn Sihanouk là người đại diện cho chế độ giết người. Mệt mỏi, xúc động gần như muốn khùng, Sihanouk bực bội vì Việt Nam xâm lược đất nước ông ta. Tuy nhiên, Sihanouk phải bảo vệ trước những lời lên án gay gắt chế độ. Ông ta nói với báo chí: “Pol Pot có thể là người yêu nước. Tuy nhiên, ông ta là anh hàng thịt. Ông ta đối xử với nhân dân trong nước như hàng lao động giống trâu bò và heo trong lò sát sinh.” (1)

Phát biểu trong một buổi họp đặc biệt của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, Sihanouk đưa ra lời kêu gọi gây xúc động cho cơ quan quốc tế nầy, đòi trục xuất quân đội Việt Nam ra khỏi Cam Bốt. Những lời phát biểu nôn nóng và cá nhân nổi bật của Sihanouk trong Thế Giới Thứ Ba lôi kéo đưọc sự đồng lòng và ủng hộ, nhưng không thể tránh bị Liên Xô phủ quyết vì bênh vực Việt Nam. Vấn đề ông ta làm đại diện cho chế độ Pol Pot là cái bóng đen bao trùm lên lòng yêu nước, sự chân thật và can đảm của ông.
Tại Liên Hiệp Quốc, Sihanouk gặp nhiều bạn cũ và nhiều bạn mới. Ông ta tiếp đại sứ Mỹ tại Liên Hợp Andrew Young là người được nhiều người yêu mến, một người đấu tranh mạnh mẽ cho nhân quyền trên khắp thế giới. Sự đối xử giữa họ với nhau là hỗ tương. Young nghĩ rằng Sihanouk là “con người kỳ lạ”. Ông ta nói: “Một người duy trì được tính đồng nhất và can đảm trước những khó khăn thật sự. Dù sao, ông ta sống còn mà tuồng như tự mình hóa giải cho mình”.
Có lẽ Young không nhận ra chẳng bao lâu sự ngưỡng mộ ông hoàng bị thử nghiệm. Hôm Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc chấm dứt buổi họp bằng phiếu phủ quyết của Liên Sô, Sihanouk, dấu không cho ai biết ngoài vợ ông, Monique, đã đưa ra một quyết định nghiêm trọng về việc làm “đaị diện cao cấp” cho nước Cam Bốt Dân Chủ. Rõ ràng ông đã mất con, mất bà chị dâu và chồng bà khi Khmer Đỏ đuổi dân ra khỏi thành phố. Nói chuyện với các nhà ngoại giao, phóng viên báo chí, các người Khmer yêu nước, ông ta không ngần ngại nói tới những điều to lớn xảy ra ở Cam Bốt. Với nỗi phiền muộn riêng và việc lên án chế độ Khmer Đỏ, mà ông là đại diện cho Pol Pot, làm gia tăng thêm sự mất mát cá nhân trầm trọng của ông trong bàn tay sắt máu Khmer Đỏ. Mặc dù đại diện của Trung Hoa ở Liên Hiệp Quốc đã tâng bốc và chú ý đến ông ta – “Xin vui lòng đừng nghĩ gì về sự tiêu pha”, ông đại sứ Trung Hoa nói với ông sau khi trao cho ông một phòng ở sang trọng – Mặc dù ông ta có tiếp xúc với báo chí, Sihanouk vẫn là một người tù. Ba cán bộ Khmer Đỏ theo ông từ Phnom Pênh, không những như hình với bóng trong những lúc phải xuất hiện giữa đám đông mà còn chia sẽ đám tùy tùng cùng đi với Sihanouk và vợ ông ta. Nếu điều đó đủ để hạ nhục một bậc “thiên tử” và vị cựu nguyên thủ quốc gia thì ông ta cũng biết được vài tuần nữa, khi Ieng Sary tới Nữu Ước, Sihanuok sẽ bị giáng chức xuống làm phó cho người đại diện nước Cam Bốt Dân Chủ ở Liên Hiệp Quốc. Như sau nầy Sihanouk thuật lại, đó là cọng rơm cuối cùng. Ông ta quyết định đó là cơ hội đúng nhất để ông trốn tìm tự do.
Buổi tối thứ Bảy hôm đó, Andrew Young choáng váng trước những lời Sihanouk viết và trao lén cho nhân viên mật vụ. Trong mảnh giấy nhỏ đó ông hàng nghệch ngoạc mấy chữ: “Ông thanh tra mến, tôi yêu cầu nhóm ông giúp đỡ để tôi trốn khỏi sự kiểm soát của Khmer Đỏ, họ đang ở với tôi tại khách sạn Waldorft-Astoria. Tối nay, đúng hai giờ sáng, tôi sẽ lén rời khỏi phòng tôi, chỉ với cái cặp mà thôi. Xin vui lòng đem xe đón tôi tới văn phòng ông Andrew Young, đại sứ thường trực của Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc. Cám ơn nhiều.” Tờ giấy có mang chữ ký của Sihanouk”.
Young vội vàng báo cho Ngoại Trưởng Vance và Richard Holbrooke. Ông nầy triệu tập một buổi họp khẩn cấp với các nhân viên tình báo và an ninh. Theo Holbrooke kể lại: “Chúng tôi tổ chức ngay một cuộc hành quân như trong phim ciné vào lúc nửa đêm.” Nhân viên mật vụ chờ phía ngoài phòng của ông ta vào giờ thái tử đã chọn. Holbrooke lên phòng chỉ huy ở tầng lầu thứ bảy của bộ Ngoại giao để điều hành kế hoạch, trong khi đó thì Vance ở nhà chờ điện thoại. Sau nầy, Holbrooke giải thích: “Mọi người hết sức quan tâm vì việc này hết sức nguy hiểm. Chúng tôi sợ ông hoàng bị giết hoặc sau đó Khmer Đỏ hoàn toàn bỏ tù ông ta”.
Trong phòng ở, Sihanouk nôn nóng chờ giờ đã định. Thông thường bọn Khmer Đỏ đi theo ông đi ngủ vào lúc nửa đêm, nhưng tối hôm đó hình như bọn chúng không buồn ngủ. 12 giờ rưởi khuya ông ta còn nghe tiếng máy chữ kêu lách cách trong căn phòng sát bên. Tới hai giờ sáng thì mọi sự đều lặng im. Ông ta chào từ biệt Monique đang mặt mày xanh mét rồi lặng lẽ lẻn ra khỏi phòng, gặp bốn nhân viên an ninh Mỹ vạm vỡ trông có vẽ dữ dằn. Trước khi ra đi, ông ta nói với Monique báo cho Khmer Đỏ và người Trung Hoa quyết định của ông rời khỏi đoàn và trả lại cho Khmer Đỏ hai chục ngàn đôla tiền mặt mà họ đã trao cho ông trước ngày rời Phnom Pênh. Các nhân viên an ninh đứng bao quanh ông như cái tháp che. Ông ta bước lẹ tới cầu thang máy và đi qua những hành lang ngoằn ngoèo để ra tới đường, ở đó có sẵn xe đưa ông ta tới văn phòng của Young. Toàn bộ sự việc, theo Sihanouk kể lại, giống như trong phim gián điệp.
Sự việc bất ngờ nầy làm đảo lộn chương trình của Young phải có mặt tại Atlanta ngày 14 tháng Giêng, trong buổi lễ kỷ niệm sinh nhật 50 của Martin Luther King. Tổng Thống Carter giải thích với báo chí sự vắng mặt của Young là vì Bộ Ngoại Giao gọi ông ta lúc 2 giờ rưởi sáng với một “nhiệm vụ đặc biệt”. Cuối cùng, buổi chiều ngày hôm đó, khi tới Atlanta, ông ta giải thích với báo chí ông ta phải nói chuyện với các đại biểu Trung Hoa “để giải quyết vài khó khăn của người Cam Bốt.” (3)
Điều ông ta không nói với báo chí là ông dã dùng thì giờ sáng sớm hôm đó để lo việc đào thoát của Sihanouk rồi sau đó thảo luận việc nầy với Trung Hoa. Đại sứ Trung Hoa tại Liên Hiệp Quốc được triệu tới văn phòng của Young để trực tiếp nghe Sihanouk bày tỏ ý muốn tìm nơi tạm trú chính trị tại Mỹ. Thái tử nói với đại diện Trung hoa: “Một ngày kia tôi sẽ trở lại Trung Hoa và sống ở đó, nhưng bây giờ thì tôi cảm thấy kiệt sức và bị thương tổn. Tôi muốn tới ngay một bệnh viện ở Nữu Ước để điều trị”.
Sihanouk như củ khoai nóng ở trong tay Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Trong khi có rất nhiều người mến chuộng ông hoàng vì những nổi gian truân mà ông đã gánh chịu ở Cam Bốt, Vance và Holbrooke lo rằng việc đào thoát của ông ta sẽ làm cho không khí chính trị Cam Bốt mất đi thần tượng lãnh đạo và đoàn kết. Một điều phía Mỹ quan tâm là hậu quả băng giá khi thuận cho Sihanouk tị nạn chính trị tại Mỹ, có ảnh hưởng tới quan hệ Hoa-Mỹ vừa mới gầy dựng xong. Chính do đề nghị của người Tàu và họ gánh chịu mọi đài thọ để lôi ông hoàng ra khỏi Phnom Pênh trước khi quân Việt Nam vào thành phố nầy và đưa ông ta tới Nữu Ước để làm đại diện cho chế độ Pol Pot không được mấy ai tin tưởng. Rõ ràng Bắc Kinh muốn dùng cái dáng vóc quốc tế của ông hoàng để kêu gọi quốc tế chống Việt Nam. Phó Thủ Tướng Đặng Tiểu Bình đi thăm Hoa Kỳ hai tuần lễ và việc Hoa Kỳ cho Sihanouk quyền tị nạn chính trị ngay trước lúc cuộc viếng thăm của Đặng bắt đầu thì điều đó được coi như là lăng nhục Trung Hoa. Roger Sullivan, Holbrooke, phụ tá ngoại trưởng về vấn đề Trung Hoa được đánh thức vào lúc nửa đêm để tới Bộ Ngoại Giao theo dõi công việc trong Phòng Điều hành. Công việc của họ là báo cho phía Trung Hoa biết. Vào 4 giờ sáng, Holbrooke gọi Han Xu, trưởng văn phòng liên lạc của Trung Hoa ở Hoa Thịnh Đốn, báo cho ông nầy biết Sihanouk đã bị kiệt sức và được đưa vào bệnh viện. Sullivan thuật lại: “Hàn Xu kinh ngạc, nhưng ông ta lấy lại bình tĩnh, và trả lời một cách hãnh tiến: “Được rồi, nếu ông ta muốn thế thì chúng tôi đồng ý vậy”.
Khi phía chân trời sông Đông (East river) hừng sáng, ông hoàng được đưa vào Bệnh Viện Lenox Hill trên Đại Lộ Park. Sáng hôm sau, vợ ông ta, bà Hoàng Monique cũng được đưa vào phòng ở tầng số 9 cùng với ông hoàng. Đây là hành động trì hoãn của Bộ Ngoại Giao Mỹ. Họ kết luận nên để ông hoàng sống trong một khung cảnh cách biệt để ông có thì giờ suy nghĩ lại yêu cầu của ông hơn là vội vàng chấp thuận cho ông tị nạn chính trị. Một bản thông báo phát hành nói rằng “vì bị chấn động và kiệt sức” Thái Tử Sihanouk đã được đưa vào bệnh viện. Phát ngôn viên Bộ Ngoại Giao của Pháp, Frank Tatu, người nầy đã sống nhiều năm ở Cam Bốt, được phái đi thăm ông hoàng. Tatu trấn an ông hoàng rằng không phải ông ta bị giam. Người ta bảo vệ an ninh cho ông và dành cho ông thì giờ để ông suy nghĩ. Sau đó, Young đến thăm ông hoàng. Cái ý chính của phía Mỹ là: “Nếu ông muốn đi thoát thì ông cứ làm, nhưng tại sao ông không dành chút thì giờ để suy nghĩ lại? Một khi người ta đã đào thoát thì người ta mất đi chính con người mình, mất đi sự hữu dụng của một nhà lãnh đạo chính trị”. Holbrooke thuật lại: “Chúng tôi cũng hỏi ông ta: Ai sẽ hỗ trợ ông? Ông đào thoát ra khỏi cái gì? Ông đào thoát ra khỏi Khmer Đỏ phải không? Ai cũng biết rằng họ đã loại trừ ông. Ông đào thoát ra khỏi đất nước ông mà ông không có cách trở lại bây giờ được phải không?” Ngày 18 tháng Giêng, Vance đích thân tới thăm ông ta tại bệnh viện và nói với ông hoàng rằng ông là “một vị khách của chính phủ Hoa Kỳ và ông ta có thể ở lại đây bao lâu cũng được, nhưng ông ta phải tránh nói tới việc tị nạn chính trị.” (5)
Ông hoàng cảm thấy phấn chấn khi ông thoát ra khỏi sự kềm tỏa của Khmer Đỏ và lại trở thành một người tự do, nhưng những khó khăn của ông không giống như những nhà lãnh đạo trong Thế Giới thứ Ba vì vị cựu vương nầy chẳng có tiền bạc gì gởi ở các ngân hàng ngoại quốc. Bệnh Viện Lenox Hill thấy e ngại khi được Tatu báo cho biết bệnh nhân của họ chẳng có bảo hiểm sức khỏe nào hết, cả bên phía Khmer Đỏ cũng như Trung Hoa -có thể yêu cầu chính phủ Hoa Kỳ trả bệnh phí 15 ngàn đô la cho ông hoàng. Nhưng sau chuyến thăm Sihanouk của Vance, kết luận là Hoa Kỳ không thuận cho ông ta tị nạn chính trị. Sihanouk chán nãn vội vàng yêu cầu đại sứ Pháp ở Liên Hiệp Quốc thuận cho ông ta và vợ chiếu khán qua Pháp sống trong một biệt thự nhỏ ở Mougins do mẹ ông ta làm sở hữu chủ. Do đó, Sihanouk viết một bức thư cho Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ trấn an họ rằng ông ta sẽ qua sống ở Pháp. Tuy nhiên, về phía Pháp, thuận cho ông tị nạn chính trị với điều kiện Sihanouk không được hoạt động chính trị, ngay cả những cuộc phỏng vấn. Monique, cha là người Pháp, có thể có chiếu khán nhưng ông hoàng thì không. Tình trạng ông hoàng bây giờ rất nan giải: Không có một đồng xu dính túi, một người bị lưu đày ra khỏi đất nước hay sung sướng làm đại diện cho một chế độ giết người. Chẳng bao lâu, thêm một điều chọn lựa đến với ông hoàng, nhưng điều nầy kém hấp dẫn: Qua một đại sứ, Hà Nội gởi cho ông hoàng bức thư mời ông về lại Phnom Pênh để đứng đầu chế độ do họ dựng nên.
Cuối cùng, Đặng Tiểu Bình thực hiện điều chọn lựa cho ông ta. Đặng hết sức lo ngại về những lời Sihanouk phát biểu chống lại Khmer Đỏ và dự tính của ông ta qua sống ở phương Tây. Với sự hợp tác của người Mỹ, Đặng thực hiện một cuộc họp với Sihanouk hôm 31 tháng Giêng. Có bốn nhân viên an ninh Bộ Ngoại Giao đi kèm, Sihanouk và vợ được đưa từ Nữu Ước xuống Blair House, một Nhà Quốc Khách của Mỹ, nơi Đặng đang cư trú – để tham dự một bữa ăn tối không được công bố.
Trong bữa ăn sang trọng nấu theo kiểu Tàu, Đặng khuyến khích ông hoàng: “Samdech Sihanouk, ông là nhà yêu nưóc vĩ đại. Ông không thể bỏ quê cha đất tổ, ông không thể bỏ nước Cam Bốt Dân chủ.” Sihanouk đáp lại ngay: “Chỉ là Cambodia, không phải là Cam Bốt Dân chủ. Tôi không phải chính là người dân chủ, tôi là một ông hoàng phong kiến.” Đặng phản ứng quyết liệt, nói rằng quả thật không phải là một ông hoàng dân chủ, và nói thêm: “Người Trung Hoa chúng tôi thú thật chúng tôi không đồng ý về một vài vấn đề trong chính sách của Pol Pot. Anh ta là người hết sức bướng bỉnh.” Ông ta nói Trung Hoa đã cố làm cho Pol Pot mềm mỏng hơn. Ông hoàng ngờ vực hỏi lại với giọng cười nôn nóng: “Thật không? Ông nghĩ rằng có thể biến con cọp thành con mèo con?” Đặng xác nhận rằng Trung Hoa chẳng thể làm được điều đó nhưng cố đẩy Pol Pot ra khỏi Khmer Đỏ. Dùng lòng biết ơn của ông hoàng với Trung Hoa, Đặng nói rằng Trung Hoa là người bạn cũ và là quê hưong thứ hai của ông hoàng kể từ khi ông bị lật đổ hồi năm 1970. Nếu ông hoàng không trở về sinh sống ở Bắc Kinh, điều đó làm cho Bắc Kinh mất mặt. Ông ta bảo đảm Trung Hoa không buộc ông hoàng cộng tác với Kmer Đỏ và không gây áp lực buộc ông hoàng liên minh với Khmer Đỏ. Trung Hoa cũng không buộc ông ta phải đi tới nơi nào trái ý ông. Đặng cũng biểu văn phòng của ông thúc đẩy Khmer Đỏ tìm kiếm các con cái, cháu chắt và thân nhân của ông hoàng bị mất tích. Đặng nồng nhiệt mời ông hoàng và hứa để ông ta hoàn toàn tự do. Hai tuần lễ tấn thối lưỡng nan của ông hoàng coi như được giải quyết. Bắc Kinh lại trở thành nơi ông cư ngụ cho đến lúc có những cơ hội chính trị chỉ dấu cho ông ta hoạt động cho nền độc lập của Cam Bốt.(6)
Sự lạc quan của Sihanouk đối với việc cư trú ở Trung Hoa dĩ nhiên là điều lầm lẫn. Ông ta hết sức mau lẹ trở thành một đối tượng chịu áp lực, dụ dỗ và ve vãn của nhièu đảng phái liên kết với nhau trong một cuộc đấu tranh mới cho nước Cam Bốt lại bắt đầu đứng lên sau khi Việt Nam chiếm đóng nước nầy. Khuôn mặt quốc tế và uy tín vô cùng to lớn của ông trong dân chúng Cam Bốt, một lần nữa làm cho ông liên lụy tới vai trò chính yếu trong tấn thảm kịch ở Cam Bốt. So với năm 1970, khi ông bị truất khỏi ngôi vị quốc trưởng, đẩy ông ta đi với Khmer Đỏ và những người trong bọn họ được Việt Nam và Trung Hoa ủng hộ, ngoại diện còn cao hơn nhiều. Việc Việt Nam chiếm đóng Cam Bốt không phải là một thách thức đối với Trung Hoa. Nó chính là sự phiền lụy đang phát triển đối với các nước Đông Nam Á. Quan trọng hơn, nó dẹp bỏ mất tấm đệm đã có từ lâu nằm giữa hai nưóc Thái Lan và kẻ cựu thù của Thái Lan là Việt Nam. Sự xung đột nảy sinh giữa Việt Nam và Trung Hoa, và Cam Bốt do Trung Hoa bảo hộ, giờ đây một cuộc xung đột có tính cách lịch sử lại nổi lên -Thái Lan và Việt Nam về việc kiểm soát các vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi cuộc chiến tranh mới tạo ra nhiều cơ hội tốt lành nhưng không dự liệu truớc cho đội quân tiền phong Liên Sô ở Thái Bình Dương, các nước liên minh với Thái Lan ở trong khu vực và các nước bạn hữu Tây Phương của họ cũng bị lôi kéo vào cuộc xung đột, làm cho Cam Bốt trở thành một điểm nóng khác cho cuộc đối đầu ở Viễn Đông. Chính vì cuộc xung đột lịch sử nầy đang âm ỉ cháy mà các bạn hữu và đồng minh mà kẻ chủ mưu gặt hái được lợi ích có tính cách chiến lược, số phận của nước Cam Bốt ở trong vị thế cân bằng.
Ba quốc gia, một dòng trôi
Khi quân đội Việt Nam tràn vào Phnom Pênh rồi tiến tới biên giới Thái Lan truy kích Khmer Đỏ thì ở Băng Cốc kinh hoảng lên. Quân Việt Nam sẽ ngừng lại ở đâu? Liệu “nước Nga ở Á Châu” nầy truy kích tàn quân Pol Pot vào trong lãnh thổ Thái Lan? Liệu họ có cho xe tăng lăn xích vào thủ đô Thái Lan?
Trong hàng trăm làng Cam Bốt, quân Việt Nam được hoan hô vui mừng nhưng thiếu tin tưởng. Cán bộ và dân quân Khmer Đỏ đã bỏ chạy rồi. Dân chúng bây giờ được tự do sống theo từng gia đình, yên tâm đi ngủ mà không sợ ngày hôm sau. Ba trăm ngàn người ở các tỉnh phía Tây và thủ đô Phnom Pênh buộc phải theo chân Khmer Đỏ rút vào rừng. Số còn lại coi như thoát nạn. Dân chúng lấy hết thóc trong vựa và giết heo gà để lo cho bữa ăn ngon lành đầu tiên sau nhiều năm đói khát. Hàng trăm ngàn người lên đường trở về quê. Đàn ông, đàn bà ăn mặc rách rưới mang theo ít đồ dùng đẩy trên xe cải tiến, kẻ đi qua, người đi lại giống như đàn kiến vậy. Sau cuộc xâm lăng của Việt Nam sáu tháng, khi tôi tới thăm lại Cam Bốt, người dân tìm đường trở về vẫn còn lang thang trên đường. Mệt nhoài và đói khổ sau khi đi bộ hàng trăm dặm, họ tìm về nơi chốn cuối cùng. Một điệp khúc tôi thường nghe nói ở cửa miệng những người sống sót là “Nếu quân Viêt Nam không tới thì chúng tôi chết hết.” Tuy nhiên, điều bày tỏ biết ơn ấy lại kèm thêm một nỗi lo lắng khác vì Việt Nam là kẻ thù truyền thống. – Có thể Việt Nam sát nhập Cam Bốt vào nước họ. Một người nguyên là thầy giáo nói nhỏ vào tai tôi khi ông ta đang trên con đường dài trở về làng cũ: “Tôi sợ họ (Việt Nam) ở lại đây ăn hết lúa gạo chúng tôi.”
Chắc chắn Việt Nam chẳng cần nuôi dưỡng niềm tin. Ba tháng sau khi chiếm Phnom Pênh, họ cướp phá thành phố nầy một cách có hệ thống. Từng đoàn xe tải chở tủ lạnh, máy điều hòa không khí, dụng cụ điện, tủ bàn, máy móc và các tượng điêu khắc quí giá hướng về thánh phố Hồ chí Minh. Những loại hàng nầy dân chúng phải bỏ lại sau cuộc xua đuổi tàn bạo dân chúng ra khỏi thành phố năm 1975 và bọn Khmer Đỏ cũng không đụng tới. Họ ghét những thứ hàng của bọn tiểu tư sản đồi bại. Những chiến lợi phẩm từ Phnom Pênh có thể đem lại cho Hà Nội ít tiền nhưng để lại một vết hằn sâu trong tâm khảm người Khmer, nó làm gia tăng sự thương tổn về tiếng Youn mà người ta không ưa. Nó cũng để lại một vết dơ lớn cho vai trò “người cứu mạng” của nhân dân Cam Bốt.
Tháng Bảy 1979, khi tôi tới Phnom Pênh thì đó là thành phố ma, hoàn toàn trơ trụi, công việc liều lĩnh nhất của những người trở về là dựng những căn chòi sơ sài để chờ bên ngoài thành phố. Những người nầy họ tìm cách lẽn vào thành phố săn tìm những gì có thể mang đi được. Đi dọc theo đại lộ Monivong, tôi có thể nghe tiếng dội dị thường bước chân tôi đi. Khu dịch vụ Trung Hoa một thời nhộn nhịp ở Phnom Pênh trông giống như cảnh trạng sau cơn bão lớn. Nhà cửa, quán tiệm đều bị lục soát, chỉ còn lại tủ bàn gảy gọng và dụng cụ gia đình móp méo quăng lây lất trên đường. Nệm bị cắt xé và bao gối nằm giữa đất. Rõ ràng bọn cướp bóc đã vào nhà lục lọi tìm vàng hay nữ trang người ta dấu lại.
Nếu Việt Nam không nghĩ tới sức kháng cự Khmer Đỏ sụp đổ mau lẹ thì họ cũng không chuẩn bị đầy đủ cho những gì đang chờ đợi ở trong nưóc cũng như những khó khăn quốc tế nghiêm trọng. Nó không hẵn chỉ là một quốc gia không có tiền tệ, chợ búa, bưu điện. Những người sống sót mất tinh thần và gầy yếu đang phải đối đầu với nạn đói. Thay vì được hoan hô vì đánh đuổi được một chế độ đáng nguyền rủa thì họ lại phải đối đầu với những lời phê phán của thế giới.
Cam Bốt do đảng Nhân dân Cách mạng Cam Bốt cai trị, đảng nầy được dựng lên một cách vội vã khi quân Việt Nam tiến vào thành phố Phnom Pênh. Đảng có hai trăm đảng viên, gồm đám nguời chạy loạn và đào thoát khỏi hàng ngủ Khmer Đỏ và không có kinh nghiệm gì cả, họp thành Ủy ban Cách mạng cũng không phải nắm giữ nhiệm vụ phục hồi đất nước và duy trì cuộc sống bình thường của dân chúng sau cơn ác mộng. Điều quan trọng nhứt là họ không thể hy vọng gìn giữ chế độ mới chống lại lực lượng vũ trang Khmer Đỏ. Sự giết hại những người thuộc giai cấp có nghề chuyên môn ở Cam Bốt và sự miễn cưỡng của những người sống sót phục vụ cho một chế độ Cọng sản khác làm cho công việc xây dựng lại đất nước thêm phần khó khăn.
Hàng ngàn chuyên viên và kỹ thuật viên Việt Nam được lệnh đi Cam Bốt để bảo trì nguồn tiếp tế nước và nhà máy điện của thành phố Phnom Pênh, cho xe lửa hoạt động trở lại, mở lại các bệnh viện đơn sơ có các bác sĩ Việt Nam, điều dưỡng viên và nhóm nhỏ các bác sĩ Cam Bốt. Chính quyền được thành lập với sự điều hành của cố vấn Việt Nam núp ở đằng sau. Hàng trăm người Cam Bốt được đưa qua học những lớp cấp tốc y tế, giáo dục, ngân hàng, ngoại thương và an ninh.
Sau một thời gian không có tiền tệ, trong thời gian đầu chợ búa hồi sinh trao đổi bằng lúa gạo và vàng, năm 1980, giấy bạc được lưu hành. Nhờ sự buôn lậu lớn qua biên giới Thái Lan, chợ búa lại dồi dào hàng hóa. Sự viện trợ to lớn của quốc tế đánh đuổi được nạn đói. Trẻ em lại đến trường. Thuốc về nhiều trong các kệ bệnh viện mà trước kia trống rỗng. Cam Bốt hồi sinh như tôi đã chứng kiến trong một thời kỳ dài hơn sáu năm. Đó là phép lạ, như con phượng hoàng trỗi dậy từ đống tro tàn. Dù Việt Nam cung cấp hạ tầng cơ sở đáng kể, sự viện trợ quốc tế quả là cao thượng, nhưng trên tất cả là sự toàn thắng nhờ sức chịu đựng và lòng kiên trì của người dân Cam Bốt.
Tuy nhiên, việc giải cứu Cam Bốt còn dễ hơn giải quyết những vấn đề chính trị tương lai. Như những người dân Cam Bốt đang trên đường tái tạo cuộc sống, những cố gắng lớn của Hà Nội là tập trung đoàn kết toàn quốc, tạo ra một quốc gia Kmer mới, có chính quyền và định chế đảng phái.
“Nếu Phnom Pênh sụp đổ,
Sài Gòn sẽ sụp đổ theo”
Mùa xuân năm 1981, môt bản hiến pháp mới được thông qua sau khi có cuộc tổng tuyẻn cử toàn quốc chọn 117 người trong 148 ứng cử viên. Ứng cử viên là những người Khmer Đỏ cũ, Khmer Issarak, và những trí thức còn sống sót từ chế độ cũ mà họ đã đoàn kết chống lại Pol Pot. Về cuộc tuyển cử, bộ trưởng ngoại giao Hun Sen giải thích: “Chúng tôi chọn những người có hay không hoạt động trong lãnh vực chính trị. Đặc biệt, chúng tôi chọn những người từng hoạt động chính trị và đã có hy sinh xương máu”.. (17) Chẳng có gì ngạc nhiên, tất cả những người cương quyết của chế độ mới được chọn với số phiếu 99 phần trăm.
Sau cuộc tuyển cử, đại hội đảng chính thức tiết lộ một đảng được tổ chức lại ở Mimot hồi tháng Giêng 1979. Đảng mới nầy, được đặt tên lại là đảng Nhân Dân Cách Mạng Cam Bốt (Kapuchean People’s Revolutionary Party -KPRP) có tám trăm đảng viên, làm sống lại phe thân Việt Nam của Đảng Cộng Sản Cam Bốt hầu như đã bị Pol Pot tiêu diệt hoàn toàn. (8) Tổng bí thư của đảng là Pen Sovan, một người cứng rắn, má hóp thuộc nhóm Khmer Issarak trước lưu vong ở Hà Nội.
Đảng mới phục hồi sự đoàn kết Đông Dương trước kia đã bị Pol Pot phá vỡ. Pol Pot từ khước Việt Nam như là một đảng đàn anh của Cộng Sản Cam Bốt. Pen Sovan thừa nhận đảng Nhân Dân Cách Mạng mang cái hào quang truyền thống của Hồ Chí Minh – người sáng lập Đảng Cộng Sản Đông Dương. Một trong những cố gắng chính của Việt Nam ở Cam Bốt là giáo dục Đảng Nhân Dân Cách Mạng, đặc biệt với những thành viên mới về sự nguy hiểm của “chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi” , phá vỡ tình đoàn kết Đông Dương. Để giữ gìn sự trong sáng của đảng, các cố vấn Việt Nam (ở cấp tỉnh) phủ quyết những người có thể là đảng viên và chọn ứng viên được gởi đi Việt Nam để học tập chính trị. (9)
Về mặt quân sự, Cam Bốt được đặt dưới trách nhiệm của Quân Đoàn 4 của Việt Nam, quân đoàn nầy đảm trách các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi Bộ Quốc Phòng Cam Bốt đang được thành lập, tới 1983, ba sư đoàn quân đội Khmer được nâng lên (10) vai trò hỗ trợ thì 180 ngàn quân Việt Nam của Quân Đoàn 4 do Tướng Lê Đức Anh chỉ huy tạo thành một cái mộc che cho chế độ còn non yếu.
Ba tổ chức, như cái bóng, kiểm soát nước Cộng Hòa Nhân Dân Cam Bốt, tên của chế độ. Tổ chức cao nhất là một bộ phận có tên gọi là A- 40 gồm một số chuyên viên lấy từ Ủy Ban Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam. Họ duy trì quan hệ giữa hai đảng Cam Bốt và Việt Nam và đưa ra mọi khuyến cáo quan trọng. Một bộ phận khác gọi là B-68 do Trần Xuân Bách lãnh đạo, một thành viên Ban Bí Thư Đảng và gồm thêm những chuyên viên cấp trung ương làm việc với các cơ quan cấp bộ khác nhau, tham gia các quyết đinh hằng ngày. Bộ phận thứ ba gồm các cố vấn gọi là A-50, gồm những người làm việc ở cấp tỉnh. (11)
Tại nông thôn, các cố vấn dân sự từ các tỉnh “kết nghĩa” (sister) ở Việt Nam qua làm việc trong các văn phòng tỉnh. Bên dưới cấp tỉnh các là toán đặc biệt do quân đội Việt Nam phái tới có một đại úy chỉ huy. (12)
Những năm sau khi Việt Nam CS xâm lược và chiếm đóng Cam Bốt, Việt Nam CS muốn chỉnh đốn lại liên minh Đông Dương và nâng lên mức độ luật pháp tự nhiên bất dịch – một thứ luật pháp do trong quá trình lịch sử và địa lý mà có. Tướng Lê Đức Anh viết trong một bài báo lớn: “Qua nhiều thế kỷ, ba nước (Lào, Cam Bốt và Việt Nam) đã chia sẻ số phận nạn nhân do phong kiến Trung Hoa, đế quốc và những thế lực phản động quốc tế xâm lược.” Chia cắt nước nầy khỏi nước kia, dùng nước nầy như một bàn đạp để sát nhập nước kia, rồi sát nhập cả ba nước làm một đã trở thành “một định luật của mọi cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài.” Anh cho rằng kết quả xây dựng “một liên minh chiến đấu và chiến lược giữa ba nước Đông Dương sẽ tạo nên sức sống còn và phát triển cho mỗi quốc gia cũng như cho cả Đông Dương vậy.” (13)
Binh lính Việt Nam phục vụ ở Cam Bốt, chết vì bệnh sốt rét, bị tàn tật hay bị giết trong các cuộc phục kích của Khmer Đỏ, chính là đóng góp phần của họ vào cái “luật” đó theo phương cách căn bản nhất. “Nếu Phnom Pênh sụp đổ, Sài Gòn sụp đổ theo. Nếu chúng tôi chiến đấu và chết thì phải chết ở đây chứ không phải chết ở Việt Nam”. Đó là phương cách các sĩ quan Việt Nam giải thích lý do tại sao họ phải có mặt ở Cam Bốt.(14)
Hợp tác thì vâng, làm nước đệm thì không
Bước tiến công khai đầu tiên để tiến tới hình thức Liên Minh Đông Dương được thực hiện hồi tháng Giêng 1980, khi các bộ trưởng ngoại giao của ba nước họp ở Phnom Pênh tuyên bố tình đoàn kết của họ để giải quyết vấn đề Cam Bốt và những vấn đề quốc tế khác. Từ đó về sau, cứ hai năm một lần họ lại họp với nhau như thế để cho thế giới thấy Hà Nội đóng vai trò lãnh đạo cho toàn thể nhóm các nước Đông Dương. Với vai trò hợp tác của Lào và Cam Bốt, Hà Nội không những nắm lấy ngôi vị chủ đạo đối với từng nước mà còn tìm cách chính thức hóa chế độ Phnom Penh, tạo thành một ý niệm không thể lay chuyển được cho liên minh mới hình thành của họ. Từ năm 1980, Hà Nội cố phát triển một ý niệm về hai khối ở Đông Nam Á: Khối Đông Dương và Hiệp Hội Các Nước Đông Nam Á (ASEAN) và thẳng thừng bác bỏ ý kiến cho rằng Cam Bốt nên trở thành một nước đệm giữa hai khối. Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Cơ Thạch của Việt Nam nói với Bộ Trưởng Ngoại Giao Thái Sitthi Sawetila hồi tháng Năm/1980: “Tôi không cho rằng Đông Nam Á cần có một quốc gia đệm. Tại sao các ông lại muốn có một quốc gia đệm bên trong các nước Đông Dương.” (15)
Điều Hà Nội tìm kiếm không chỉ là một khối an ninh chính trị mà còn là một khối hợp tác kinh tế toàn diện, qua đó “dần dần phân bố bổ túc lao động, bảo đảm thành quả lao động và khả năng tiềm tàng đất đai của tổ quốc.”(16) Với sáu triệu hếcta đất đai canh tác được và với dân số 60 triệu người (1985), Việt Nam rõ ràng thấy Cam Bốt đất rộng người thưa (Dân số 7 triệu), với 1 triệu rưởi hếcta đất đai canh tác được và nguồn lợi thủy sản lớn lao.(17)
Viêc theo đuổi chính sách nầy bắt đầu từ thỏa hiệp Lào-Việt ký năm 1977, tất cả các tỉnh của Lào và Cam Bốt đều kết nghĩa với các tỉnh của Việt Nam. Cố vấn Việt Nam, chuyên viên kỹ thuật, bác sĩ từ các tỉnh kết nghĩa bên phía Việt Nam được phái tới các tỉnh kết nghĩa ở Lào và Cam Bốt để tham gia các dự án nhỏ và xây dựng liên kết đặc biệt của Đông Dương.
Tiếp theo cuộc họp cao cấp của ba nước Đông Dương tại Việt Nam hồi tháng Hai 1983, một Ủy Ban Hổn Hợp Kinh Tế Việt-Lào-Cam Bốt được thành lập. Từ đó, cơ quan nầy, gồm bộ trưởng kế hoạch của mỗi nước họp hai năm một lần, để “gia tăng hợp tác kinh tế và điều hòa kế hoạch hợp tác quốc dân” (18) Mặc dù ủy ban quốc gia về hợp tác văn hóa và kinh tế đã được thành lập trong mỗi nước, ban đầu chỉ gia tăng về mặt cố vấn, chẳng bao lâu sau Hà Nội làm sáng tỏ cho thấy đó là “mục tiêu lâu dài để đưa ba nước gần lại với nhau và đạt được thành quả hợp tác kinh tế.” (19)
Sự thực là trước cuộc đảo chính năm 1970 đã có năm ngàn người Việt sinh sống ở Cam Bốt, tất cả họ đều bị giết trong chính sách chống Việt Nam của Lon Nol và Pol Pot hoặc bị trục xuất về Việt Nam là tiêu biểu cho chính sách quay trở lại của họ. Những người trở lại nầy cũng như người mới đến định cư có thể trở thành yếu tố quan trọng cho sự hợp tác kinh tế toàn diện và lâu dài. Một hội đồng chỉ đạo của các bộ trưởng Cam Bốt nói rằng “những người Việt Nam đến Cam Bốt từ năm 1979 đã tham gia việc phục hồi công cuộc định cư và phát triển kinh tế như nông nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp và làm muối có thể được xem xét cho ở lại và tiếp tục làm việc.” (20)
Mặc dù Việt Nam quan tâm tới làn sóng người Việt Nam ồ ạt tiến vào Cam Bốt có thể làm gia tăng tính thù địch của người Khmer và tạo ra căng thẳng, họ cũng thấy người Việt Nam ở đây kiếm được công ăn việc làm và nắm giữ nhiều vai trò then chốt trong nền kinh tế nước nầy. Dù chính sách của Hà Nội đưa ra có mục đích định cư người Việt ở Cam Bốt, như đối phương tố cáo, thì đó chỉ là tiếp nối sinh hoạt tự nhiên trong quá khứ của người Việt Nam đối với những vùng ít cư dân, hậu quả là gia tăng sự có mặt của người Việt Nam trên toàn quốc. Theo các nhà nghiên cứu xã hội, tới năm 1985, hơn 175 ngàn người Việt, – gồm dân sự, cựu cư dân ở Cam Bốt, những người đi tìm đất mới, thương nhân và binh lính giải ngũ – định cư ở Cam Bốt. (21) Theo vài số liệu dự đoán khác thì cao lên tới sáu trăm ngàn người. (24)
Trong khi quân đội Việt Nam và các cố vấn dân sự cố gắng củng cố chế độ Cam Bốt mới thì toàn bộ nỗ lực của Hà Nội là tìm kiếm sự công nhận của quốc tế với chế độ Cộng Hòa Nhân Dân Cam Bốt. Sự lên án của thế giới đối với việc Việt Nam can thiệp và cấm vận kinh tế tiếp theo sau những cố gắng của Việt nam nhằm hợp thức hóa chế độ Cam Bốt mới là quan tâm lớn nhất của chính sách ngoại giao của Hà Nội. Mục đích của nó là củng cố chế độ, xóa bỏ Cam Bốt Dân Chủ của Pol Pot hơn là nói lên tính công hiệu của chế độ do Hà Nội mới dựng nên.
Trên hình thức, việc công nhận nước Dân Chủ Cộng Hòa Cam Bốt là từ các nước trong khối Liên Xô và mười một nước thân Liên Xô cũng như 88 thành viên của Khối Không Liên Kết. (NAM) Trong khi bạn bè của Hà Nội trong tổ chức nầy chưa trục xuất Cam Bốt Dân Chủ ra khỏi phong trào nầy thì ít ra, về mặt ngoại giao Hà Nội cũng thành công trong việc khóa miệng Khmer Đỏ trong các buổi hội nghị. Tại một cuộc họp của tổ chức không liên kết nầy ở Colombo hồi tháng Sáu 1979, lời đề nghị của Hà Nội dành cho Hunsen, đại biểu trẻ của Cộng Hòa Nhân Dân Cam Bốt một ghế đã bị bác bỏ và đồng ý cho đại biểu thù địch của Hun Sen, Ieng Sary của nuớc Cam Bốt Dân Chủ giành lấy ghế đại biểu nầy với một điều kiện. Ông ta hiện diện ở đó nhưng không được phát biểu trên diễn đàn. Tháng Chín 1979, tại hội nghị tối cao các nước không liên kết họp ở Havana (Cuba), tân chủ tịch của phong trào là Chủ Tịch Phidel Castro của Cuba, đã có một hành động ơn huệ. Mặc dù Khiêu Sampan, chủ tịch của chế độ mới bị sụp đổ, nhận được chiếu khán cho vào Cuba, đoàn đại biểu của Khiêu cư trú tại một khách sạn cách nơi hội nghị hai mươi dặm, nhưng họ bị tước đoạt phương tiện di chuyển và thẻ nhận dạng để vào hội nghị. Mặc dù đại biểu các nước trong khối ASEAN phản kháng mạnh mẽ, ghế đại biểu của Cam Bốt vẫn bị bỏ trống, và từ đó vẫn cứ bị bỏ trống như vậy.
Những thứ mưu mẹo như thế và ngay cả quyền phủ quyết của cường quốc Liên Sô đã không thành công ở Liên Hiệp Quốc. Trong suốt thời gian họp Đại Hội Đồng hồi tháng Chín 1979, cố gắng của Việt Nam trục xuất Cam Bốt Dân Chủ ra khỏi tổ chức thế giới nầy bị thất bại.
Trong một cuộc bỏ phiếu của Hội Đồng Bảo An, có 6 phiếu (gồm cả Hoa Kỳ) chống 3, Cam Bốt DânCchủ tiếp tục giữ ghế của họ. Đây là cuộc bỏ phiếu có phần mai mỉa đối với chính quyền Carter mà trước đó họ đã cáo buộc Cam Bốt Dân Chủ “vi phạm nhân quyền thô bạo nhất.” Vance rất phiền với quyết định nầy vì Hoa Kỳ bỏ phiếu cho chế độ Pol Pot. Tuy nhiên, nếu bỏ phiếu chống lại Cam Bốt Dân Chủ cũng có nghĩa là chống lại Trung Hoa và các nước trong khối ASEAN, là hợp thức hóa cuộc xâm lăng của Việt Nam. Về sau, một quan chức Mỹ nói rõ thêm: “Đối với chúng tôi, sự lựa chọn là giữa những nguyên tắc luân lý và luật pháp quốc tế. Chúng tôi nghiêng cán cân về phía luật pháp vì nó cần cho an ninh và quyền lợi của chúng tôi.” Tuy nhiên, cuộc bỏ phiếu có tính cách định mệnh ấy đã nối liền với bọn giết người là những người mà quan chức Hoa Kỳ bị cấm bắt tay.” (23)
Ngày 21 tháng Chín 1979, Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc thông qua bản tường trình của Ủy Ban Ủy Nhiệm bằng một cuộc bỏ phiếu 71 thuận trên 35 chống và 34 phiếu trắng. Hành động quân sự của Việt Nam chống lại Cam Bốt Dân chủ bắt đầu hồi Giáng Sinh 1978 và cuối cùng bị “chiếu tướng” tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc. Chế độ Pol Pot có thể trở thành một nhóm du kích lén lút trên các ngọn đồi, nhưng nó lại được bỏ phiếu công nhận là đại biểu hợp pháp duy nhất cho nhân dân Cam Bốt. Từ cuộc bỏ phiếu đó, vài tuần trong mùa Thu, cuộc đấu tranh cho Cam Bốt di chuyển từ những khu rừng rậm trên biên giới Thái-Miên tới phòng hội to lớn của Liên Hiệp Quốc ở khu Manhattan tại thành phố Nữu Ước.
Tại Liên Hiệp Quốc làm sóng đấu tranh buộc Việt Nam rút quân khỏi Cam Bốt và để nhân dân Cam Bốt quyền tự quyết tạo ra một liên minh khác rất lạ lùng của hàng trăm quốc gia ủng hộ Khmer Đỏ mà nhiều nước trong số nầy từng bị tố cáo và lên án. Việc Liên Hiệp Quốc tiếp tục công nhận nước Cam Bốt Dân chủ có nghĩa là cô lập ngoại giao Việt Nam và tạo cho Trung Hoa một bầu không khí, qua đó, dựng nên chiến dịch trừng phạt Việt Nam và cố gắng làm đảo ngược thắng lợi quân sự của Hà Nội.
Diễn biến gia tăng cho Việt Nam
Bài học quân sự của Trung Hoa hồi tháng Hai 1979 chẳng có dấu tích gì đối với quyết định của Việt Nam ở lại Cam Bốt cả. Tuy nhiên, Bắc Kinh được thuyết phục rằng áp lực quân sự hỗn hợp (cả ở biên giới Hoa Việt và ở nội địa Cam Bốt) cùng với cô lập ngoại giao, cấm vận kinh tế của cộng đồng thế giới buộc Hà Nội phải tìm kiếm hòa bình. Mục tiêu của Trung Hoa là duy trì Khmer Đỏ dù có thử thách và cải cách để nắm quyền ở Phnom Pênh. Ngay việc ấy khó có khả năng thực hiện được, tiếp tục chiến đấu chống Việt Nam dường như là một mục tiêu vừa đủ tầm cho chính sách ngoại giao Trung Hoa. Liên Sô xâm lược A Phú Hãn tháng 12/1979 tạo thêm sức nặng cho công cuộc chống Liên Sô của Trung Hoa. Trung Hoa có thể nắm vai trò hàng đầu đòi độc lập và tự trị của hai nước nhỏ và là kẻ chiến đấu hàng đầu chống lại Liên Sô bá quyền và Việt Nam bành trướng, một hành động có thể đem lại hứa hẹn của các nước Tây Phương hỗ trợ cho chương trình hiện đại hóa của Trung Hoa.
Tuy nhiên, điều quan trọng nhất, không nói ra lý do là tại sao Trung Hoa không hăng hái từ bỏ cuộc xung đột ở Cam Bốt, dùng dằng không để giải quyết là vì họ sợ nếu vấn đề được giải quyết nhanh chóng thì có thể chỉ có lợi cho Hà Nội. Nếu chế độ thân Việt Nam được hợp thức hóa ở Cam Bốt và một khối Đông Dương đoàn kết dưới sự chỉ huy của Hà Nội, thì nó sẽ trở thành một sức mạnh quan trọng cho quyền lực Trung Hoa ở trong khu vực nầy. Giải pháp xung đột Cam Bốt và bảo toàn tình hữu nghị giữa Hà Nội và các nưóc Đông Nam Á sẽ kết thúc liên minh không mấy thỏa đáng giữa Trung Hoa và các nước trong khối ASEAN. Đối đầu với quyền lực Việt Nam đang được củng cố ở Đông Dương, Thái Lan sẽ nghiêng theo chiều gió và bớt hợp tác với Trung Hoa. Những nước ASEAN khác như Nam Dương và Mã Lai, những nước thường nhìn người Trung Hoa ở nước họ với lòng ngờ vực và sợ chủ nghĩa bành trướng Bắc Kinh cũng ít nghiêng về phía Trung Hoa. Mặt khác, một cuộc chiến lâu dài ở Cam Bốt có thể tạo ra đối đầu giữa Việt Nam-Liên Sô, chống lại toàn bộ thế giới còn lại, làm hao mòn tài nguyên của Liên Xô và xương máu của Việt Nam. Trong khi Trung Hoa công khai đòi Việt Nam rút quân khỏi Cam Bốt, trong một sự thành thật ít có, Đặng Tiểu Bình thúc đẩy Thủ Tướng Nhật Bản Masayoshi Ohira là Nhật và các nước Tây Phương khác nhiệt tình trong việc đòi hỏi Việt Nam phải rút quân mau lẹ ra khỏi Cam Bốt. Đặng nói với thủ tướng Nhật: “Buộc Việt Nam ở lại Cam Bốt chính là sự khôn ngoan của Trung Hoa, bởi vì bằng cách đó, chúng nó phải chịu đựng tổn thất nhiều hơn và chẳng có thể với tay tới Thái Lan, Mã Lai và Tân Gia Ba(24)
Tháng Tư 1980, khi tôi phỏng vấn, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hàn Niệm Long của Trung Hoa, một trong những nhà kiến trúc chiến lược của Trung Hoa với Đông Dương, đưa ra lời biện luận khác biệt. Hỏi về việc quân đội Việt Nam rút khỏi Cam Bốt, ông ta nói điều đó không thể áp dụng được. Ông ta nói: “Chỉ khi nào Liên Sô không viện trợ cho Việt Nam được nữa thì một giải pháp chính trị cho sự khủng hoảng nầy mới hình thành.” Đối với thời điểm chưa làm gì được thì “chỉ làm nhẹ đi gánh nặng của Liên Sô. Chúng tôi sẽ cố gắng, cũng như dùng quan điểm chung để gây áp lực với họ, làm cho họ thấy rằng họ không thể tiếp tục con đường đang đi… Chúng tôi bảo đảm Liên Bang Sô Viết đang bị cô lập hoàn toàn.” (25)
Cuôc xung đột Hoa-Việt tiến tới kích thước mới vào mùa hè năm 1979 khi Trung Hoa bắt đầu tổ chức lại những người đào thoát và bất mãn từ Đông Dương tới thành một nhóm kháng chiến chống VIệt Nam. Trong khi hàng chục cán bộ trung cấp từ Việt Nam và Lào trốn tới Bắc Kinh và các bộ lạc kháng chiến người tị nạn Lào tới Bắc Kinh thì Hoàng Văn Hoan, một trong những đồng chí thân cận của Hồ Chí Minh và là một thành viên Bộ Chính Trị trốn thoát tới Trung Hoa. Vào tháng Bảy, trong khi máy bay ghé lại Karachi trên đường đi Đông Bá Linh để trị bệnh, Hoan, 76 tuổi, than phiền đau ngực, được Pakistan đưa vào bệnh viện khám xét. Khi máy bay sắp cất cánh, những cận vệ và các người đồng hành của Hoan mới hay rằng văn phòng nhân viên ở phi trường chẳng hay biết gì về trường hợp của Hoan cả. Một tháng sau, ông ta xuất hiện ở Bắc Kinh và tố cáo “Duẫn và đồng bọn bán Việt Nam cho Mạc Tư Khoa.” Trong khi Hoan đưa ra lời kêu gọi một “cuộc cách mạng thứ hai” ở Việt Nam thì Trung Hoa thiết lập một trường huấn luyện cho người Việt, Lào bất mãn chế độ và các người thuộc các nhóm bộ lạc nhỏ. Trung Hoa bắt đầu ủng hộ phong trào du kích chống Cộng, chống lại chính quyền các nước Đông Dương.(26)
Như một chuyên viên Bộ Ngoại Giao Trung Hoa ghi nhận: “Trung Hoa không chỉ cho Việt Nam một hay hai bài học. Nó áp dụng cho toàn bộ vấn đề.” Nó bao gồm cả những áp lực mạnh mẽ cho Lào và Cam Bốt, ngăn cản những nước nầy với Việt Nam đang viện trợ cho họ và buộc Việt Nam phải quân sự hóa nền kinh tế của họ. Theo ông ta thì phương cách ấy có thể kéo dài thêm ba hay năm năm nữa. “Tôi không biết Trung Hoa trù định hậu quả như thế nào sau khi tình hình nầy kết thúc.” (27)
Tình hình bên trong Cam Bốt cần phải có liên minh mới trong khu vực. Nhìn từ Băng Cốc, thảm trạng Việt Nam chiếm đóng Cam Bốt đã tước đoạt mất phương tiện phòng ngự hiện đại của họ, là chơi lại ván bài bành trướng của triều đại nhà Nguyễn hồi đầu thế kỷ 19. Việc người Pháp đến Đông Dương tạm thời làm ngưng sự thù địch giữa Việt Nam và Thái Lan tranh giành nhau vùng đất tốt nhứt trong nội địa Đông Nam Á. Từ thế kỷ 17, người ta đã thấy sự thù địch đó được bày tỏ qua những cố gắng của cả hai phía để kiểm soát khu vực đệm nầy: Vương Quốc Lào và Cam Bốt – và làm cho nhau kém thế đi. Thời kỳ sau Hiệp Định Genève 1954, Thái Lan cố ngăn cản Việt Nam Cộng Sản bằng cách hợp tác với CIA mở ra cuộc “chiến tranh bí mật” ở Lào, viện trợ cho phong trào chống Cộng Khmer Serei ở Cam Bốt và gởi quân đội tới Nam Việt-Nam. Hà Nội đáp ứng bằng hành động viện trợ bọn nổi loạn Cộng Sản Thái. Tuy nhiên, những cố gắng của Thái đều thất bại. Năm 1975, Cộng Sản thắng lợi ở Lào, nơi có năm chục ngàn quân đội Việt Nam trấn đóng và việc Việt Nam chiếm đóng Cam Bốt sau đó có nghĩa là Thái Lan đã mất đi một khu vực sống còn mà họ đã tìm cách chiếm cứ từ thế kỷ 17. Cuối cùng Thái Lan không sẵn sàng nám lấy vai trò của họ. Hồi trước, Thái Lan sẵn sàng đáp ứng bằng cách gởi quân tới đánh nhau với Việt Nam trong lãnh thổ Cam Bốt. Việc ấy nay không thể còn có được nữa. Trong cuộc tranh luận có tính chiến lược nóng bỏng nhất hồi đầu năm 1979, Kriangsak bị chất vấn về việc can thiệp với câu hỏi: “Với danh nghĩa nào chúng ta sẽ tiến vào Cam Bốt? giúp Khmer Đỏ phải không?” Tuy nhiên, nhờ sự kháng chiến lâu bền của Khmer Đỏ và quyết định của Trung Hoa làm giảm bớt sức mạnh Việt Nam, Thái tự thấy mình còn đủ sức đối đầu với Việt Nam đang ở thế thượng phong. Theo các nhà chiến lược Thái, không làm như vậy, về mặt căn bản, sẽ làm biến đổi sự cân bằng quyền lực trên vùng nội địa Đông Nam Á. Nó có thể đưa Việt Nam tới tận ngưỡng cửa Thái Lan và tạo ra con đường tiến tới lật đổ và cuối cùng Việt Nam chiếm đóng Thái Lan. Như một nhà quân sự Thái phát biểu: Mất Cam Bốt là một nước đệm. Điều tốt nhất Thái có thể làm được là nuôi dưỡng một cuộc chiến, tự cuộc chiến đó, nó trở thành một vùng đệm cho Thái Lan.
Sự khai sinh con đường mòn Đặng Tiểu Bình
Trên bình diện chính quyền, sự liên minh giữa Bắc Kinh và Băng Cố đã mở ra con đường mòn Đặng Tiểu Bình xuyên qua Thái Lan và biến Thái Lan thành một cái khoen chặn chiến lược an toàn của Trung Hoa tại Cam Bốt. Bằng sắp đặt bí mật, tàu bè Trung Hoa chuyển vũ khí và đạn dược tới các cảng Sattahip và Klong Yai của Thái Lan. Từ đó, quân đội Thái chở những thứ hàng nầy tới các căn cứ Khmer Đỏ (Về sau cho cả những nhóm kháng chiến không Cộng Sản) nằm dọc theo biên giới Thái Miên. Đại sứ Trung Hoa ở Băng Cốc làm việc với các thương nhân Hoa-Thái cũng như với quân đội Thái, chịu trách nhiệm tiếp tế lương thực, thuốc men và các hàng tiếp liệu dân sự khác cho Khmer Đỏ. Thay vì trả tiền vận chuyển cho quân đội Thái, Trung Hoa đồng ý cho Thái giữ lại một số vũ khí được chở tới. Bằng một dàn xếp khác, Trung Hoa cung cấp kỹ thuật để hai nước cùng sản xuất vũ khí chống chiến xa trong các nhà máy ở Thái Lan với điều kiện một phần vũ khí nầy đưọc trao cho Khmer Đỏ.
Thỏa hiệp về sự chuyển vận nầy không những giúp làm sống lại công ty vận chuyển quân sự Thái mà từ khi Mỹ đóng cửa các căn cứ quân sự nó đã bị xuống dốc. Nó cũng mở ra cơ hội tham nhũng cho sĩ quan Thái, họ đòi phải có “lệ phí” đối với việc vận chuyển vũ khí Trung Hoa.
Nhờ hàng tiếp liệu của Trung Hoa bắt đầu chuyển tới hồi cuối năm 1979, lực lượng Pol Pot từng bị giảm thiểu vì đói và sốt rét rừng, trở thành từng nhóm rách rưới nay được trẻ trung hóa trở lại. Khi Việt Nam tấn công, khoảng một chục sư đoàn Khmer Đỏ sống sót bị tan tác và không tiếp xúc được với nhau hoặc ngay chính với cấp chỉ huy của họ nữa. Trong khi viện trợ nhân đạo quốc tế làm sống lại Khmer Đỏ thì hàng tiếp liệu Trung Hoa làm cho họ lấy lại đủ sức mạnh. Tới cuối năm 1980, lực lượng Khmer Đỏ bành trướng lên khoảng từ hai chục đến bốn chục ngàn.(30)
Trong khi bộ chỉ huy Khmer Đỏ vẫn còn ở cách biên giới Thái Lan vài dặm thì các nhóm nhỏ du kích Khmer Đỏ khoảng một chục người tiến sâu vào nội địa Cam Bốt để phục kích lực lượng quân sự Việt Nam, đặt mìn trên đường hay phá sập cầu cống. Tới cuối năm 1981, chiến tranh du kích ở Cam Bốt gia tăng khủng khiếp làm cho một phần lớn đất nước lâm vào cảnh bất an.
Tuy nhiên, trên bình diện quốc tế, chẳng có gì sáng sủa cho liên minh chống Hà Nội nầy. Dù có Mỹ hợp tác với ASEAN và Trung Hoa để giữ cho cái ghế của Khmer Đỏ tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc tồn tại, sự hỗ trợ của thế giới càng lúc càng bị xoi mòn. Từ năm 1980 Việt Nam mở rộng cửa Cam Bốt cho báo chí Tây Phương. Các phóng viên báo chí và các toán truyền hình tự đo di chuyển trong xứ, quan sát các ngôi mộ tập thể vĩ đại, nói chuyện với không biết bao nhiêu người còn sống sót, viếng thăm trại tù nổi tiếng tàn ác Toul Sleng ở thủ đô Phnom Pênh, nơi hàng ngàn bản tự khai viết ra khi bị tra tấn, nơi có những tấm hình khủng khiếp của các nạn nhân đứng trong im lặng cung khai trước bộ máy giết người rất hiệu quả của nước Cam Bốt Dân Chủ. Các bản tường trình và các thước phim truyền hình của các nhà báo đã làm cho quan điểm thế giới thay đổi và làm cho Anh Quốc cũng như Úc không còn thừa nhận nước Cam Bốt Dân Chủ nữa.
Mùa Thu năm 1980, tân bộ trưởng ngoại giao Mỹ, Edmund Muskie, hăng hái nghe theo lời khuyên của bộ trưởng từ nhiệm Vance, dự tính không tham dự cuộc bỏ phiếu cho Pol Pot tại Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên, cuối cùng, do áp lực của Trung Hoa, áp lực các đại sứ Mỹ ở Đông Nam Á, và dĩ nhiên cả áp lực của Brzezinski, Muskie đồng ý bỏ phiếu cho Cam Bốt Dân Chủ. Khmer Đỏ vẫn giữ ghế của mình, và cuộc vận động của Mỹ-Trung Hoa và ASEAN thu hoạch được 97 phiếu tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc kêu gọi Việt Nam rút quân. Tuy nhiên dù kết quả có như thế, nhiều nước ASEAN biết rằng việc giữ ghế cho Cam Bốt Dân Chủ ở Liên Hiệp Quốc không những cải thiện được khuôn mặt của Khmer Đỏ mà còn mở rộng căn cứ kháng chiến chống Việt Nam. Mùa Thu năm 1980, Thủ Tướng Tân Gia Ba Lý Quang Diệu tuyên bố muốn tập trung và duy trì sự ủng hộ của thế giới không Cộng Sản thì tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc năm 1981, Cam Bốt Dân Chủ phải được đặt dưới sự lãnh đạo quốc tế.
Cần phải nghĩ tới giải pháp cuối cùng mà không có Khmer Đỏ, ASEAN không có thể hỗ trợ cho ai? Về sau, một quan chức cao cấp ngoại giao Thái Lan giải thích: “Khó có thể dàn xếp chính trị trong khi ASEAN chưa biết ủng hộ ai?” Ý nghĩ về một Khmer chống Việt Nam do đó được hình thành nhưng người ủng hộ thì ở cách xa cả ngàn dặm và có không biết bao nhiêu cuộc họp đầy sóng gió với nhiều đảng Khmer khác nhau và Trung Hoa trước khi ý nghĩ đó được hình thành.
Trung Hoa lạnh nhạt trước những cố gằng của ASEAN trong việc tìm kiếm một giải pháp chính trị bằng cách tổ chức các cuộc hội nghị quốc tế dưới sự bảo trợ của Liên Hiệp Quốc. Đòi hỏi của Trung Hoa là duy trì Cam Bốt Dân chủ như hiện trạng nhưng hình thức thì là một mặt trận đoàn kết rộng rãi hơn để thực hiện cuộc đấu tranh vũ trang. Trung Hoa sợ ASEAN đề nghị một liên minh chính quyền Khmer với những nhân vật như thái tử Sihanouk và cựu thủ tướng Son Sann sẽ làm giảm bớt quyền lực của Khmer Đỏ. Từ khi Sihanouk trở về Bắc Kinh hồi tháng 2 năm 1979, quan hệ của ông ta với Trung Hoa càng ngày càng tồi tệ. Trung Hoa xây cho ông một lâu đài vĩ đại với một hồ bơi tầm cở thế vận hội Olympic và một phòng xem ciné riêng ngay ở trung tâm Bắc Kinh. Nhưng trái với những gì Đặng hứa với ông hoàng hồi ở Hoa Thạnh Đốn, chẳng bao lâu Trung Hoa bắt đầu gây sức ép với ông hoàng về việc lãnh đạo một liên minh đoàn kết. Ông hoàng không những lặp lại lời từ chối yêu cầu của Trung Hoa mà lại còn yêu cầu trục xuất Cam Bốt Dân chủ ra khỏi Liên Hiệp Quốc, giữ ghế trống cho đến khi có đại biểu mới. (33) Tuy nhiên việc Trung Hoa tạo cho ông ta một cuộc sống thoải mái và danh dự cũng không ngăn được ông ta tiếp tục gay gắt lên án Khmer Đỏ và phê bình chính sách của Trung Hoa về điều gọi là “chống Việt Nam cho tới người Khmer cuối cùng.” Đối với ông, phương cách giải quyết vấn đề Cam Bốt là thông qua một hội nghị Genève mới, bảo đảm an ninh cho Việt Nam và bảo đảm độc lập của Cam Bốt. Ông ta chế nhạo về điều Trung Hoa chủ trương gây áp lực làm cho Việt Nam bị đè bẹp. Những nhà lãnh đạo Trung Hoa hết sức giận dữ về nhữ ng lời phát biểu của ông hoàng ở Bắc Kinh, đặc biệt hồi đầu năm 1980, ông ta bày tỏ ý muốn trở về sống ở Cam Bốt như một công dân thường, rằng thực ra họ đã kiểm soát ông ta. Hồi tháng Bảy/1980, khi ngoại trưởng Thái không được dàn xếp để họp với Sihanouk làm cho ông ta giận dữ và thất vọng vì ông ta phải từ Bình Nhưỡng đến để tham dự cuộc họp nầy. Ông ta tuyên bố với báo chí là ông ta nghỉ, không tham gia chính trị nữa. Qua kinh nghiệm hồi tháng Tám/1979, khi Trung Hoa cũng có cách thức như trên để cản trở kế hoạch của ông ta họp với phó tổng thống Mỹ, Walter Mondale, Sihanouk cũng cho như thế là đủ.
Tuy nhiên, các nước Đông Nam Á gây áp lực với Trung Hoa. Trong cuộc thăm viếng đạt được kết quả tốt đẹp ở Bắc Kinh hồi mùa Thu 1980, Thủ Tướng Thái Prem Tinsulanon và Thủ Tướng Tân Gia Ba Lý Quang Diệu cả hai đều thúc đẩy Trung Hoa nên bỏ rơi ba tay Khmer Đỏ -Pol Pot, Ieng Sary và Khieu Samphan- nổi tiếng tàn ác- khỏi quyền lãnh đạo và chấp thuận vai trò Sihanouk và Son Sann. Đặng Tiểu Bình thẳng thừng nói với Prem rằng nếu loại trừ ba tay lãnh đạo nầy sẽ làm hỏng ngay tinh thần chiến đấu của Khmer Đỏ đang đóng vai trò nước đệm giữa Thái Lan và Việt Nam. Tuy nhiên Đặng chấp thuận đề nghị đưa Sihanouk và Son Sann vào một liên minh với Khmer Đỏ -với một điều kiện “hai ông nầy không phá hoại cuộc chiến đấu chống Việt Nam.”(36)
Trung Hoa có nhiều lý do để lo ngại không chỉ Sihanouk mà thôi mà cả người cộng sự với ông ta trước kia trong vai trò thủ tướng: Son Sann, con người ăn nói dịu dàng, không cả quyết, đang chỉ huy một lực lượng sáu ngàn người của Mặt trận Nhân dân giải phóng Quốc gia Khmer (People’s National Liberation Front -KPNLF) do tướng Dien Del chỉ huy đóng trên biên giới Thái-Cam Bốt. Son Sann là người kiên trì, chỉ chịu liên minh với Khmer Đỏ khi nào ba tay lãnh tụ nổi tiếng tàn ác nói trên bị loại trừ mà thôi. Ông ta cũng đòi trang bị thêm vũ khí cho binh lính của ông ta trước khi hợp tác với Khmer Đỏ. Ông ta cứ nói đi nói lại hoài không biết chán: “Trước khi vào hang cọp tôi cần có cây gậy.”
Tuy nhiên, Đặng trấn an Lý Quang Diệu rằng Trung Hoa không đòi hỏi Khmer Đỏ nắm lại quyền lực ở Cam Bốt. Nếu có một cuộc bầu cử sau khi Việt Nam rút quân thì Khmer Đỏ sẽ bị thất bại. Trung Hoa chấp thuận điều ấy. Đặng hỏi Lý về nhiệt tình mới của ông ta đối với nền dân chủ tư sản: “Ông có chịu Khmer Đỏ cầm quyền sau cuộc bầu cử?” Lý trả lời “Dĩ nhiên” nhưng người ta tin chắc rằng điều ấy chẳng bao giờ có được.(37) Sau chuyến viếng thăm, Lý thấy thỏa mãn với đề nghị triệu tập một hội nghị quốc tế để giải quyết vấn đề Cam Bốt và thiết lập một nền cai trị thông qua bầu cử tự do.
Vấn đề bây giờ là các nước ASEAN muốn hình thành một liên minh mới cho Cam Bốt trước khi có cuộc họp quốc tế để bàn về Cam Bốt. Tháng Hai/1981, phái viên đặc biệt của ASEAN, ông Anwar Sany, một nhà ngoại giao Nam Dương bay đi Bình Nhưỡng để gặp Sihanouk thúc đẩy ông nầy đứng ra lãnh đạo một chính quyền liên minh mới nầy. Việc nầy xảy ra sau khi các đại sứ Trung Hoa và Cam Bốt Dân chủ ở Bình Nhưỡng, cả hai đều năn nỉ ông hoàng tham gia liên minh của họ.
Sihanouk bị nhiều áp lực. Ông ta cảm thấy có thể bị mất cơ hội. Hồi mùa Thu năm 1979, ông ta tập họp những người ủng hộ ông ta trong một Liên Minh những người Khmer Quốc Gia và đề nghị nói chuyện với Việt Nam để “bảo tồn độc lập và trung lập” của Cam Bốt. Nhưng sau đó, ba lá thư ông viết cho người bạn cũ Phạm Văn Đồng đều không được trả lời. Lời đề nghị công khai của ông được gởi tới cho Heng Samring, người cai trị Cam Bốt như một “dân thường” cũng bị lạnh nhạt bác bỏ. Hơn thế, cánh cửa phía Việt Nam dành cho ông giờ đây đóng lại. Ông ta cố gắng tạo ra mục tiêu hỗ tương với Cam Bốt Dân Chủ để thành lập một chính phủ lưu vong của chính ông ta nhưng chỉ được phương Tây miễn cưỡng chấp thuận. Sihanouk không vui nếu phải rút lui khỏi sân khấu chính trị, quay trở lại với những người cùng tham gia chính trị với ông trong quá khứ. Không những ông ta bị một số người yêu nước lưu vong đã kích về điều họ gọi là lòng ích kỷ trong khi miễn cưỡng tham gia cuộc đấu tranh cho độc lập của Cam Bốt, chính hình ảnh của ông như một vị cha già của nước Cam Bốt hiện nay và quá trình lịch sử của ông không cho phép ông rút lui khỏi sân khấu chính trị. Ông giải quyết tình trạng tấn thối lưỡng nan bằng cách tuyên bố sẵn sàng bắt tay với Khmer Đỏ và đưa ra nhiều điều kiện để có thể hình thành liên minh mới.
Chỉ một thời gian ngắn sau khi ông hoàng làm cho thế giới ngạc nhiên bằng việc ông ta tuyên bố sẵn sàng bắt tay với Khmer Đỏ, ông ta trả lời tôi trong một cuộc phỏng vấn như sau. Từ năm 1970, khi ông ta lưu vong lần đầu ở Bắc Kinh, mỗi năm ông ta tới sống ở Bình Nhưỡng – tại tư dinh vĩ đại gồm bốn chục phòng ở bên ngoài thủ đô do Chủ Tịch Bắc Hàn Kim Nhật Thành, một người bạn cũ, ra lệnh xây cho ông. Có giấy chiếu khán do ông hoàng bảo đảm với Kim Nhật Thành, tôi bay tới thủ đô băng giá Bắc Hàn. Ở giữa cuộc phỏng vấn (tại ngôi lâu đài ông ta đang ở có nhiều ngọn đồi chung quanh đang bị tuyết bao phủ trắng xóa và mặt hồ đang bị đóng băng), ông hoàng chỉ vào một cái bàn và nói với giọng cười có vẽ nôn nóng như thường thấy: “Đây là cái bàn tôi sẽ ngồi với Khiêu Samphan để thương thảo. Và rồi sẽ có chuyện bất đồng”. Bày tỏ lòng trong trắng là điều đặc sắc nơi ông, ông hoàng nói: “Bây giờ hay ngày mai, tôi chưa sắp sẵn để trả lời vâng với Khmer Đỏ hay phải tới tháng Mười Một (ngày ông ta tuyên bố họp vòng hai với Khiêu Samphan). Tôi cần có thời gian thuận tiện để nói với người Trung Hoa.”
Như Sihanouk tiên đoán, cuộc họp lần đầu với Khiêu Samphan hồi tháng Ba bị thất bại vì những điều kiện ông ta đưa ra khi liên minh với Khmer Đỏ. Trong 9 điều kiện đó, điều kiện nói về tương lai là khó khăn nhất. (39)
Khieu Samphan từ khước điều Khmer Đỏ sẽ buông súng cùng với các lực lượng kháng chiến khác khi đã có quân đội quốc tế đến giữ gìn hòa bình thay thế cho quân đội Việt Nam rút lui. Những biến cố về sau cho thấy Sihanouk đụng tới vấn đề then chốt có tính cách phá hoại quyền lợi Khmer Đỏ và Trung Hoa, về mặt khác, có ảnh hưởng đến các nước không Cộng Sản ở Đông Nam Á.
Vú em của Đặng
Các nước ASEAN chẳng hiểu Khmer Đỏ thiếu khôn ngoan như thế nào khi từ chối ý kiến giải giới và từ bỏ quyền lực như là một phần trong công cuộc ổn định tình hình. Các nước nầy thỏa mãn về sự khôn ngoan của Trung Hoa khi họ đồng ý tham gia cuộc họp quốc tế bàn về vấn đề Cam Bốt. Tuy nhiên hy vọng đó kéo dài không lâu khi Mạc Tư Khoa và Việt Nam nói rõ ra rằng họ không khứng tham gia một cuộc họp như thế. Lại nữa, công việc nầy lại thêm khích lệ vì Trung Hoa cho biết họ không tìm cách bảo vệ ảnh hưởng của họ qua vai trò của Khmer Đỏ. ASEAN tiếp tục gây áp lực để hình thành một buổi họp quốc tế. Một kế hoạch hòa bình hợp lý nhứt có quan tâm đến quyền lợi Việt Nam được các siêu cường hỗ trợ, gồm cả Trung Hoa và Hoa Kỳ. Theo sự tính toán của các nước trong Hiệp Hội Đông Nam Á, họ sẽ lôi kéo Hà Nội vì Hà Nội sẽ bị mất mặt nếu đứng ngoài hội nghị. Các nước ASEAN, đặc biệt là Tân Gia Ba ngạc nhiên và bực dọc vì tình hình không mấy suông xẻ.
Tháng Bảy năm 1981, một bản tuyên bố dự thảo triệu tập hội nghị quốc tế về vấn đề Cam Bốt (ICK) do ASEAN đề nghị, – Thủ Tướng Lý Quang Diệu đề khởi- có tính cách hòa giải làm cho Việt Nam ngạc nhiên. Bản dự thảo nầy phản ảnh tính chất thỏa hiệp chung của nước trong Hiệp Hội Đông Nam Á, qua đó cho thấy chính sách gây chiến của Trung Hoa không phục vụ cho quyền lợi của họ. Một nước Việt Nam yếu kém và việc ủng hộ Khmer Đỏ (thân Trung Hoa) sẽ làm nghiêng lệch nghiêm trọng cán cân quyền lực trong khu vực nầy. Xây dựng một chính quyền độc lập và không liên kết ở Cam Bốt bằng cách loại Khmer Đỏ qua một cuộc bầu cử là mối quan tâm của Việt Nam và Thái Lan, ngăn không cho Trung Hoa can thiệp vào những vấn đề Đông Nam Á.
Các nước ASEAN bày tỏ “quan tâm chính đáng đối với các nước láng giềng của Cam Bốt (ám chỉ Việt Nam) không trở thành một đe dọa hoặc bị nước khác xử dụng để lật đổ hay tấn công vũ trang chống lại ASEAN.” Bản tuyên bố đó bao hàm một ẩn ý đổ lỗi cho Việt Nam can thiệp vào chủ nghĩ phiêu lưu của Khmer Đỏ và sự hiện diện quân sự của Trung Hoa ở Cam Bốt. Bản tuyên bố cũng đề nghị viện trợ quốc tế cho Cam Bốt để xây dựng lại những gì bị tàn phá trong cuộc chiến tranh Việt Nam xâm lược, sau khi cuộc xung đột ở Cam Bốt được giải quyết. Bản tuyên bố đó cũng yêu cầu Việt Nam rút quân khỏi Cam Bốt tiếp sau việc giải trừ vũ trang tất cả lực lượng Khmer, tạm thời thành lập một chính quyền để tổ chức bầu cử.
Sau cuộc họp ở Liên Hiệp Quốc ngày 13 tháng Bảy, bản tuyên bố dự thảo của ASEAN bị Trung Hoa và Khmer Đỏ bác bỏ. Họ chống lại ý định mời Đảng Nhân Dân Cách Mạng thân Việt Nam tham gia hội nghị. Những lời phát biểu về mối quan tâm chính đối với các nước láng giềng Cam Bốt cũng vì áp lực mà không được chú ý tới nữa. Tuy nhiên ASEAN đặt ra vấn đề giải trừ vũ khí các phe phái Cam Bốt và thiết lập một chính quyền tạm thời. Các nhà ngoại giao Tân Gia Ba ngạc nhiên nhận ra rằng việc Đặng bảo đảm với Lý Quang Diệu về một cuộc tuyển cử chẳng có ý nghĩa như đã đề cập. Tại cuộc họp ngày 15 tháng Bảy, đại sứ Tân Gia Ba tại Liên Hiệp Quốc Tommy Koh, đại diện các nước ASEAN tự thấy phải đối đầu gay gắt với đại sứ Trung Hoa tại Liên Hiệp Quốc, Lin Qing. Trước sự hiện diện của 40 quan sát viên, gồm cả các nhà ngoại giao Mỹ, Lin Quing trích dẫn luật pháp quốc tế để bảo vệ Khmer Đỏ. Tuy nhiên, đại sứ Tân Gia Ba là một khoa trưởng tại trường Đại Học Tân Gia Ba, ông nầy lớn tiếng nói: “Thưa ông đại sứ, ít ra tôi cũng biết những điều thuộc về luật pháp quốc tế như ông nói, nhưng luật pháp đâu có phải là không áp dụng cho các nhóm man rợ.” Rồi ông ta bắt đầu thuật lại chi tiết những tài liệu thu thập được ở Cam Bốt trong khoảng bốn năm khiến mọi người muốn dựng tóc gáy. Vài người Cam Bốt ở trong phòng hội bắt đầu khóc. (40)
Trong một cuộc họp khác với các ngoại trưởng ASEAN, Thứ Trưởng Ngoại Giao Hàn Niệm Long của Trung Hoa đấm tay xuống bàn nói rằng ông ta đã nghe đủ những lời phê bình Khmer Đỏ. “Nếu hôm nay ở đây không kiên trì đấu tranh cho Cam Bốt Dân Chủ thì chúng ta thảo luận cái gì, không phải là vấn đề Cam Bốt mà lại là vấn đề của Thái Lan” (41) Ông ta nhắc cho họ biết rằng tước vũ khí Khmer Đỏ, không những làm nản lòng những người chiến đấu, nó còn là một cú đấm vào mặt nước Cam Bốt Dân Chủ là chính quyền hợp pháp. Ông ta gay gắt hỏi những nhà ngoại giao trong khối ASEAN: “Quý vị có thể yêu cầu một thành viên hợp pháp nào đó của Liên Hiệp Quốc hạ vũ khi hay không? Làm thế nào chúng ta a có thể thiết lập một chính quyền tạm thời trong lãnh thổ của một quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc, khi quốc gia đó là nạn nhân của một cuộc xâm lược?” Theo con mắt của Trung Hoa, sau khi Việt Nam rút quân, chỉ có chính quyền của Khmer Dân Chủ có tư cách mở cuộc tuyển cử mà thôi.
Trong hội nghị quốc tế bàn về Cam Bốt này, Trung Hoa dùng diễn đàn đó gây tức giận cho các nhà ngoại giao khối ASEAN, vai trò của Hoa Kỳ bị va chạm ngay. Năm 1980, Tổng Thống Ronald Reagan, trong cuộc vận động tranh cử, nói với Trung Hoa là ông ta sẽ thiết lập ngoại giao với Đài Loan. Nay thì ngoại trưởng của ông ta, Alexander Haig, có khuynh hướng ngược lại để làm vui lòng Trung Hoa. Haig ghi nhận, vì quyền lợ chiến lược của Hoa Kỳ, “Trung Hoa là quốc gia quan trọng nhứt trên thế giới.”
Cũng trong hội nghị nầy, với tinh thần thân Trung Hoa, Haig đứng về phía Bắc Kinh, chống lại các đồng minh không Cộng sản và cũng là bạn hữu của Mỹ. Một nhà ngoại giao hàng đầu ASEAN thuật lại một cách cay đắng: “Haig và Holdridge, phụ tá của ông bước ra khỏi phòng Đại Hội Đồng khi IengSary đứng lên nói: “Có vẽ gì một chút kịch tính xuất hiện trên trang đầu của tờ New York Times nhưng phía sau thì gây áp lực với chúng tôi để chấp thuận đề nghị của Trung Hoa” (43)
Holbridge và phụ tá thứ trưởng ngoại giao phụ trách vùng Đông Nam Á John Neproponte thực hiện các chuyến đi Đông Nam Á, khuyến khích các bộ trưởng ngoại giao những nước nầy đừng thúc đẩy Trung Hoa phải nhượng bộ vì nhà lãnh đạo thực tiễn nầy đang chịu áp lực của cánh Tả. Ngoại Trưởng Nam Dương Mochtar Kusamaatmadja vặn lại: “Nếu Đặng không kiểm soát được toàn bộ thì đó là việc của ông ta. Chúng tôi không phải là vú em của ông ấy.” (44)
Thất bại trong việc thuyết phục Ngoại Trưởng Tân Gia Ba Suppiah Dhanabalan từ bỏ các điều khoản bị Trung Hoa chống đối, Holbridge đe dọa sẽ đem vấn đề ra thảo luận với Thủ Tướng Lý Quang Diệu, Ngoại Trưởng Dhanabalan trước khi giận dữ ra khỏi phòng họp, thách thức nói: “Xin mời! Cứ tự nhiên.” Lý không bao giờ tha thứ cho Haig và Holbridge về sự sỉ nhục nầy. (45)
Theo lệnh của Haig, đại sứ Mỹ ở Manila và Băng Cốc đặt vấn đề với Tổng Thống Marcos và Thủ Tướng Prem, thúc đẩy họ chỉ thị cho đại sứ của họ ở Nữu Ước. Mặc dù giận dữ về những điều được coi là Mỹ “phản bội”, các nước ASEAN chịu áp lực của Hoa-Mỹ và chấp thuận thỏa hiệp bằng miệng chịu từ bỏ hai điều kiện then chốt.
Cuối cùng, trở ngại vượt qua được khi các nước ASEAN chịu từ bỏ điều khoản mà họ đã cố giữ dai dẵng là tước bỏ vũ khí của người Khmer bằng một sự bảo đảm mơ hồ do ”sắp xếp thích đáng là các phe nhóm vũ trang Cam Bốt sẽ không cản trở hay gây khó khăn” trong cuộc bầu cử. Việc kêu gọi thành lập một chính quyền lâm thời được thay thế bằng những “biện pháp thích đáng để duy trì luật pháp và trật tư.” Với những lời hứa hẹn có tính cách chơi chữ như vậy để cho hội nghị khỏi bị tan vở thì những sự đối đầu gay gắt giữa Trung Hoa và các nước ASEAN -điều Đại Sứ Tommy Koh gọi là điều “cay đắng nhất trong 13 năm của tôi ở Liên Hiệp Quốc”- biểu lộ điều che dấu dưới bộ mặt chung chống Việt Nam chiếm đóng Cam Bốt và dạy cho nhóm nầy một bài học về thái độ chính trị của các siêu cường.(46)
Liên minh chiến đấu
Mặc dù Thái Tử Sihanouk từ chối tham gia hội nghị bàn về Cam Bốt, và kêu gọi một “tòa án” để chống Việt Nam hơn là triệu tập hội nghị, hồi mùa hè năm 1981, ông ta lại có khuynh hướng hình thành một liên minh. Tháng Tám, ông ta gặp Son Sann lần đầu tiên kể từ năm 1970 khi ông cựu thủ tướng nầy rời Phnom Pênh đi Ba Lê. Son Sann là một giáo sư kinh tế học, là thầy dạy riêng cho Sihanouk khi ông nầy còn trẻ, sau đó ông ta làm chủ nhà băng, bộ trưởng tài chánh rồi thủ tướng. Mặc dù họ hợp tác với nhau gần gủi và lâu dài cho đến cuối thời kỳ Sihanouk cai trị và họ cũng chẳng trao đổi gì với nhau tại cuộc họp hồi tháng Tám, áp lực hòa giải với chế độ phong kiến cũ là từ phía các nước ASEAN. Trong một cuộc họp kín tại Tòa Đại Sứ Thái ở Ba Lê, Bộ Trưởng Bô Ngoại Giao Thái Sitthi Sawetsila, một viên chức cao cấp Thái gặp Sihanouk sau 15 năm, đã khuyên Sihanouk nên quên đi chuyện quá khứ để lãnh đạo liên minh.
Với một đồng minh như Thái Lan, ông Hoàng Sihanouk thấy rõ những quan hệ cay đắng và bi thảm trong quá trình lịch sử. Hồi năm 1962, Sihanouk thưa Thái Lan ra Tòa Án Quốc Tế buộc Thái Lan phải nhượng bộ Cam Bốt về một ngôi chùa mà Thái cũng đòi hỏi. Trong suốt 15 năm cầm quyền, ông ta đã cảnh cáo dân chúng Cam Bốt về chủ nghĩa bành trướng Thái Lan cũng như những nhà cầm quyền quân sự Thái. Nay thì vấn đề an ninh của Thái Lan vượt quá những tình cảm lịch sử bệnh hoạn. Một cuộc thảo luận trong nội bộ Thái Lan xem xét về việc có ích hay không khi liên minh với Sihanouk đã được củng cố thêm khi giới quân sự Thái nhận đuợc ý kiến từ hoàng gia Thái cho hay rằng việc hòa giải với Thái Tử Sihanouk giờ đây là quyền lợi của chính Thái Lan. (47)
Sau khi được các nước trong khối ASEAN và Hoa Kỳ dỗ ngon dỗ ngọt, cả Sihanouk và Son Sann bay tới Tân Gia Ba hồi tháng Chín 1981 để ký một văn bản thỏa thuận thành lập một chính phủ liên hiệp.
Khi đã có thỏa thuận Cam Bốt Dân Chủ là thành phần chính thức được quốc tế ủng hộ, ý kiến khác nhau của năm thành viên ASEAN là những điều liên minh nầy phải thực hiện. Mã Lai và Nam Dương coi liên minh nầy như là một điểm căn bản cần thiết, trong đó lực lượng thứ ba có thể phát triển trở thành đại diện cho đa số dân chúng Cam Bốt, thành phần đa số nầy không ủng hộ Việt Nam cũng như Khmer Đỏ. Đối với họ, việc thành lập liên minh là mọt mưu mẹo của những nhà lãnh dạo không Cộng Sản nhằm để vượt trội lên trên thành phần Khmer Dân chủ hợp pháp rồi cuối cùng sẽ nói chuyện với Việt Nam sau khi đẩy Khmer Đỏ ra khỏi liên minh. Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Mã Lai Tan Sri Ghazali Shafie giải thích với tôi: “Tại vì Trung Hoa không muốn giải giới Khmer Đỏ nên chúng tôi phải xây dựng một lực lượng không Cộng Sản có tương nhượng lẫn nhau.” Việc thành lập liên minh có thể dọn đường cho lực lượng vũ trang không Cộng Sản. Ông ta cho rằng lực lượng võ trang thứ ba “không có ý định chống lại Việt Nam nhưng nhắm tới mục đích tương đồng giữa các lực lượng tham gia liên minh và tạo niềm tin cho lực lượng không Cộng Sản như là một thành phần thương thuyết với Việt Nam.”(48) Tuy nhiên, quan điểm thượng phong của Thái Lan lại liên kết chặt chẽ với việc tiếp tục gây áp lực với Việt Nam qua vai trò Khmer Đỏ và liên minh chỉ hữu ích khi giành được sự ủng hộ quốc tế. Quan điểm của Tân Gia Ba rất gần gủi với Thái Lan nhưng Tân Gia Ba lại quan tâm tới việc Khmer Đỏ không được thuận lợi khi ở trong liên minh đó. Sau khi đạt được thỏa thuận căn bản hồi tháng Chín, cả ba thành phần phải sa lầy khi thảo luận vấn đề ai sẽ giữ vai trò gì, khi nào thì tập trung hay phân tán quyền chỉ huy. Tân Gia Ba can thiệp để giúp giải quyết việc tranh cải bằng một kế hoạch của Tân Gia Ba là tạo một “liên minh lỏng lẽo” để cho mỗi bên có thể giữ quyền tự trị và từ chối Khmer Đỏ có cơ nắm quyền hành. Sau tám tháng tranh cải gay go, cũng như các nước ASEAN đe dọa cắt đường tiếp vận cho Mặt Trận Đoàn Kết Giải Phóng Cam Bốt và rút lui việc thừa nhận chính quyền Cam Bốt Dân Chủ, một hình thức liên minh có thể chấp thuận được đã hình thành.
Tới tháng Năm 1982, trở ngại cuối cùng về vấn đề ai giữ hai vai trò cao nhất trong chính quyền liên minh lại vượt qua được khi Ngoại Trưởng Thái Sitthi bay tới Bắc Kinh để thảo luận với Sihanouk (Lúc nầy thỏa hiệp toàn bộ với Trung Hoa). Sihanouk nắm ghế chủ tịch, Son Sann là thủ tướng, Khiêu Samphan giữhế phó thủ tướng kiêm bộ trưởng ngoại giao. Về sau Sihanouk giải thích với tôi: “Sau khi mượn tiếng của tôi mà làm, cuối cùng chúng tôi phải đầu hàng.” ASEAN và Hoa Kỳ cho ông ta và Son Sann thấy rõ rằng là họ chỉ ủng hộ cho một chính quyền hợp pháp giống như Cam Bốt Dân Chủ và không ủng hộ cho phong trào du kích. Ngày 22 tháng sáu năm 1982, cả ba nhà lãnh tụ họp ở thủ đô Kuala Lumpure của Mã Lai để ký một thỏa hiệp về chính phủ Liên Minh Cam Bốt Dân Chủ – chưa có danh xưng Chính phủ Liên minh Cam Bốt Dân chủ để mở rộng cuộc xung đột ở Cam Bốt. Về mặt cân bằng phe nhóm, liên minh tuồng như có lợi cho Khmer Đỏ. Các thành phần không chịu chấp nhận điều khoản thứ tư – cấu trúc ba đảng, không bên nào thắng thế, đạt được thỏa hiệp chung, chấp thuận lá cờ Cam Bốt Dân chủ và quốc ca – bảo đảm cho Khmer Đỏ có quyền rút lui khỏi liên minh với danh xưng Cam Bốt Dân Chủ của họ. Trong khi có vài ý kiến lo sợ Khmer Đỏ tự ý rút lui, điều lệ cuối cùng dù sao cũng chấm dứt mọi hy vọng rằng các phe phái không – Cộng Sản sẽ có ngày nắm lấy cái võ khoác hợp pháp của Khmer Đỏ. Khmer Đỏ cũng chiến đấu và cố giữ quyền lãnh đạo chính sách ngoại giao và tất cả các thành viên ngoại giao ở ngoài nước cũng vẫn còn trong tay họ.
Học cách sống với việc từ chức
Mặc dù tuồng như Việt Nam không bị gây ảnh hưởng gì lắm với chính phủ Liên Minh Cam Bốt Dân Chủ, hình thức chính phủ đó tăng cường vị trí quốc tế và đem lại hơi thở mới cho phong trào kháng chiến. Từ năm 1982 uy tín của Cam Bốt Dân Chủ không còn bị thách thức tại diễn đàn Liên Hiệp Quốc nữa và số quốc gia bỏ phiếu tán thành giải pháp của ASEAN chống lại Việt Nam tăng từ 91 năm 1979 lên tới kỷ lục 114 năm 1985. ASEAN và Hoa Kỳ xúc tiến chương trình giúp đỡ quân sự và kinh tế cũng như huấn luyện cho các thành phần không Cộng Sản trong liên minh Cam Bốt Dân Chủ. Trung Hoa và Bắc Hàn viện trợ cho các thành phần không Cộng Ssản trong liên minh nầy nhưng một số viện trợ rất lớn thì dành cho Khmer Đỏ. Nhờ có lương thực và viện trợ nhân đạo của các tổ chức quốc tế giúp đỡ cho các trại nằm dọc theo biên giới Miên Thái và viện trợ quân sự của ASEAN và Trung Hoa, lực lượng kháng chiến không Cộng Sản tăng lên tới con số ba chục ngàn người.
Trong khi cố gắng xây dựng những thành phần không Cộng Sản có thể tồn tại được để đối thoại với Việt Nam, ASEAN cũng vẫn giữ áp lực ngoại giao với Hà Nội để đề nghị hội nghị thương thảo. Có khoảng hơn một chục đề nghị khác nhau – trong đó khác với bản tuyên bố về hội nghị quốc tế của ASEAN – các nước không Cộng sản thúc đẩy Việt Nam rút quân khỏi Cam Bốt và để cho nhân dân Cam Bốt thực hiện quyền tự quyết dưới sự giám sát quốc tế. Tuy nhiên, đằng sau bộ mặt đoàn kết của ASEAN, Nam Dương và Mã Lai, những nước quan tâm từ lâu tới mối đe dọa của Trung Hoa trong khu vực nầy đã thúc đẩy đà tiến hòa giải. Tướng Benny Murdani, sau nầy là giám đốc cơ quan tình báo Nam Dương, thực hiện hai chuyến đi kín tới Hà Nội năm 1980 và 1982, về mặt hình thức là để hòa giải. Một phần Jakarta không tin tưởng Trung Hoa vì chính vai trò của họ đóng góp trong cuộc nổi dậy bất thành của Cộng Sản Nam Dương hồi năm 1965, cảm tình của Nam Dương đối với cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Việt Nam cũng như sự khiêu khích của Bắc Kinh, đặc biệt Benny bày tỏ thông cảm đối với việc Việt Nam can thiệp vào Cam Bốt như là một hành động tự vệ chính đáng. Tuy nhiên, vì sự chống đối mạnh mẽ của Thái Lan và Tân Gia Ba, bỏ rơi việc coi như đã xẩy ra rồi ở Cam Bốt để chấp thuận việc dàn xếp quốc tế. Hồi đầu năm 1983, cố gắng của Mã Lai nhằm tạo đối thoại giữa ASEAN hai nước Đông Dương -Việt Nam và Lào- đã bị Thái Lan và Trung Hoa từ chối thẳng thừng. Một đề nghị khác của Mã Lai hồi năm 1985 thực hiện một cuộc đối thoại trực tiếp giữa Heng Samrin và Liên Minh Cam Bốt Dân Chủ lại cũng bị Thái Lan và Trung Hoa cũng như Khmer Đỏ từ khước. Họ cho rằng làm thế có khác chi Khmer Đỏ bỏ đi cái thế hợp pháp. Một đề nghị khác của Nam Dương về việc bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt có thể đóng góp phần lớn, coi như khuyến khích Việt Nam rút quân khỏi Cam Bốt lại cũng bị Thái Lan và Tân Gia Ba lạnh nhạt khước từ.
Sau khi giành đưọc sự thừa nhận của quốc tế, vai trò đoàn kết của ASEAN trở thành quan trọng trong việc tìm kiếm giải pháp cho Cam Bốt. Vai trò đoàn kết của ASEAN vẫn được duy trì vì sự trì hoãn của “quốc gia tiền tuyến” Thái Lan. Sự chống đối cương quyết của Thái Lan tạo nên cảm nghĩ chua xót cho Nam Dương. Nước nầy biết rằng mặc dù họ là một quốc gia lớn nhất và đông dân nhất ở Đông Nam Á, Bangkok vẫn giữ vai trò xỏ mũi dắt đi. Theo quan điểm của Nam Dương, cuộc xung đột kéo dài ở Cam Bốt không những chỉ là mối đe dọa làm tan vở liên minh các nưóc trong khu vực mà còn mở đường cho việc can thiệp của các siêu cường càng lúc càng gia tăng. Điều Indônesia muốn là Việt Nam hợp tác với công đồng Đông Nam Á và xây dựng một “chiến hào bảo vệ” chung quanh các nước nầy để tránh sự can thiệp của các cường quốc, ngay cả Trung Hoa. (49)
Dối với Cam Bốt, duy trì sự kết hợp một liên minh gồm nhiều thành phần nhỏ trong phương cách nào đó để tạo áp lực với họ hơn là duy trì tình đoàn kết của các nước ASEAN. Không những không có sự điều hòa giữa các thành phần liên minh mà họ lại còn thường lén lút đã kích nhau. Khmer Đỏ và các lưc lượng không-Cọng sản đôi khi ngẫu nhiên chạm súng với nhau. Vài nước thành viên ASEAN cố gắng đẩy bọn Khmer Đỏ đáng tởm ra khỏi liên minh. Ám ảnh về sự ngờ vực lẫn nhau giữa các thành phần liên minh và giữa các nước ASEAN với nhau vẫn còn kéo dài. Hồi tháng Chín năm 1983, trong một bữa tiệc do ASEAN tổ chức tại khách sạn Waldorf-Astoria ở Nữu Ước để vinh danh Thái Tử Sihanouk, ngoại trưởng Mã Lai Ghazali kín đáo thăm dò vấn đề với Khieu Samphan: “Có thể ông vui lòng yêu cầu các ông Pol Pot, Ieng Sary và Ta-Mok hãy vì Cam Bốt mà rút lui khỏi chính quyền?”
Sihanouk liền nhảy vào đề tài đó với lời đề nghị. Nếu “ngài đáng kính Pol Pot” trao quyền chỉ huy quân sự cho Samphan thì Sihanouk rất vui lòng nhường tòa lâu đài của ông ở Bình Nhưỡng và cái biệt thự nhỏ của ông ở Mougins lại cho Pol Pot. Phấn khởi với việc nầy, ông hoàng nói thêm rằng tòa lâu đài ở Bình Nhưỡng có trang bị hồ tắm, phòng chiếu phim, sân vũ cầu và sân bóng rỗ. Sihanouk trấn an: “Quý vị có đủ thứ bồi bếp nấu ăn: Pháp, Khmer, Trung Hoa. Quý vị tiêu khiển thì giờ một cách thích thú.” Khiêu Samphan nhăn mặt trả lời: “Tất cả những cái đó không quan trọng. Điều đáng nói là đoàn kết. Chúng ta luôn luôn đoàn kết và chúng ta cũng sẽ luôn luôn đoàn kết như vậy. Không ai có thể chia rẽ chúng ta.” Sau vài phút im lặng khó chịu, các bộ trưởng tiếp tục bữa tiệc.” (50)
Biết trước cuộc họp cấp bộ trưởng vào tháng Bảy năm 1984 sẽ lại đặt vấn đề rút lui của một vài khuôn mặt nổi tiếng tàn ác Khmer Đỏ, Đặng báo thẳng cho chính phủ liên hiệp Khmer Dân Chủ biết. Tiếp Sihanouk, Son Sann và Khiêu Samphan cùng họp một lần tại Bắc Kinh vào tháng Mười/1984, Đặng đe dọa sẽ cắt hết viện trợ cho mọi thành phần kháng chiến nếu một thành viên bị trục xuất khỏi liên minh. Sau nầy Sihanouk kể lại, Đặng rất giận dữ. Ông ta hằm hè: “Tôi không hiểu tại sao vài người muốn trục xuất Pol Pot. Quả thực ông ta có làm vài điều sai lầm trong quá khứ nhưng hiện giờ ông ta lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Việt Nam xâm lược.” (51)
Sự căng thẳng tiềm ẩn bên trong chính phủ đoàn kết Cam Bốt Dân Chủ không phải là vì Sihanouk lặp lại lời đe dọa rút lui khỏi liên minh. “Trước khi nước Cam Bốt được độc lập, tôi chỉ có một ông chủ – nước Pháp- nhưng sau khi mất nền độc lập một lần nữa, tôi phải đối phó với tám ông chủ.” Sihanouk chán nãn nói với một cọng sự. Tám ông chủ đó gồm có sáu nước trong khối ASEAN, Trung Hoa và Hoa Kỳ.
Một trong những lời đe dọa nghiêm trọng nhất đòi rút lui khỏi liên minh xảy ra hồi tháng Mười Một 1984 trong khi ông ta đang thăm Paris, lại có lời đồn ông ta sẽ gặp Hun Sen, bộ trưởng ngoại giao của Heng Samrin, lúc đó đang đi thăm Paris với tính cách riêng. Ngày 22 tháng Mười một, đại sứ Thái ở Paris, Arun Phanupong đang tham dự một cuộc họp của UNESCO, chuẩn bị lên diễn đàn phát biểu thì ông ta nhận được một bức điện của cấp chỉ huy, Sitthi Sawetsila, yêu cầu ông nầy dàn xếp gấp một cuộc gặp gỡ cho ông ta với Sihanouk. Sitthi đang trên chuyến bay tới Paris để ngăn chặn Sihanouk. Arun vội vàng bỏ đi không kịp đọc diễn văn.
Ông ta gặp ông hoàng và hỏi ông nầy có thật ông ta nói với Khieu Samphan muốn từ chức hay không. Arun kể lại: “Ông ta gay gắt. Sihanouk nói “Tôi chán ngấy. Tôi chẳng làm đưọc gì với cái liên minh đó cả.” Lời phát biểu của ông hoàng là do những người biểu tình thân Son Sann khích động ở Minneapolis, những nguời nầy đã kích dữ dội ông hoàng trong chuyến đi thăm của ông mười hai ngày trước đó. Sau đó ông ta bình tĩnh và mời Sitthi cùng ăn trưa với ông tại một khách sạn ở ngoại ô Paris. Qua cơ quan thông tin quốc tế của Thái, Arun gởi điện cho Sitthi đang ở trên máy bay và báo cho ông nầy tới thẳng phi trường Charles De Gaulle để dùng cơm trưa với Sihanouk. Qua bữa ăn, Sitthi lên án hành động những người ủng hộ Son Sann và thuyết phục ông hoàng nên duy trì vai trò lãnh đạo liên minh. Buổi tối đó về lại
Paris, Sitthi thấy buồn nôn. Một chiếc xe Mercedes dơ bùn là cái giá nhỏ để giữ cho liên hiệp chính phủ Cam Bốt Dân chủ sống còn.(52)
Bốn tháng sau, Sihanouk lại de dọa từ chức, lấy lý do là kém sức khỏe nhưng rõ ràng là ông ta phản kháng việc Trung Hoa từ chối tìm cách nói chuyện với Hà Nội. Ngoại trưởng các nước ASEAN lại vội vã họp nhau ở Bangdung để thảo một văn thư kêu gọi ông hoàng đừng từ chức. Sihanouk đồng ý, nhưng tới tháng 7 năm 1985, ông ta lại công khai tố cáo Khmer Đỏ, một thành viên của liên minh đã giết 38 binh sĩ của ông và cảnh cáo rằng nếu chuyện ấy còn xảy ra nữa thì “quyết định của tôi rút ra khỏi liên minh sẽ không tránh khỏi.”
Mặc dù liên minh vẫn tồn tại khi vượt qua được những khó khăn nội bộ, việc bất tín nhiệm lại xảy ra trong mùa khô 1984-85. Trong vòng 5 tháng hứng chịu những cuộc tấn công của Việt Nam vào các trại dân sự và quân sự dọc theo biên giới Thái-Cam Bốt bằng pháo binh và xe tăng, chấm dứt cái ão tưởng về một vùng lãnh thổ của nước Cam Bốt Dân Chủ. Việt Nam chiếm đóng vùng nầy, bao gồm cả một vài căn cứ tiếp liệu quan trọng của Khmer Đỏ và luôn cả cái họ gọi là thủ đô của họ. Ngôi làng tên là Phum Thmei, nằm sát biên giới Thái Lan. Làng nầy là thủ phủ của chính phủ liên minh Cam Bốt Dân chủ, thái tử Sihaouk đã đón tiếp và cụng ly chúc mừng ngoại giao đoàn. Khi cuộc tấn công nầy chấm dứt và chẳng còn một chút đất nào trên lãnh thổ Cam Bốt, Khmer Đỏ phải phân tán thành từng đơn vị nhỏ, xâm nhập vào trong nội địa Cam Bốt và cho 45 ngàn người dân sự của họ tỵ nạn trên đất Thái Lan. Những người ủng hộ Sihanouk và Son Sann và 250 chục ngàn nguời tị nạn của họ cũng từ trong nội địa rút về bên lãnh thổ Thái Lan.
Việc rút lui quân sự biểu lộ yếu kém về ý chí, tổ chức và huấn luyện của các lực lượng kháng chiến không Cộng Sản, đặc biệt là với Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia Nhân Dân Cam Bốt (KPNLF). Không giống như đám Khmer Đỏ cuồng tín, quân kháng chiến không Cộng Sản miễn cưỡng khi phải bỏ lại gia đình trong trại tị nạn để đi sâu vào nội địa Cam Bốt đánh du kích. Trong khi binh lính theo Sihanouk phân tán từng nhóm lẻ tẻ đi sâu vào lãnh thổ Cam Bốt để tuyên truyền chính trị thì mười bốn ngàn quân của phe Mặt Trận GiảiPphóng Nhân Dân Khmer (KPNLF) bất động vì bị mất căn cứ. Một vài cấp chỉ huy quân sự của mặt trận nầy hết sức tức giận muốn chống lại đường lối độc tài của Son Sann. Viêc ông ta thường can thiệp vào các vấn đề quân sự và từ chối hợp tác với Sihanouk cuối cùng bùng nổ công khai, trở thành sự phản kháng của binh lính vào tháng Chạp 1985. Các nước ASEAN phải can thiệp cuộc nổi dậy nầy. Cuối cùng quyền chỉ huy lực lượng quân sự của Mặt Trận Giải Phóng Quốc Gia Nhân Dân Khmer (KPNLP) rơi vào tay các nhà lãnh đạo quân sự Thái.
Vịnh Cam Ranh: Con gấu miền Nam
Trong khi các nước ASEAN cố gìn giữ công cuộc kháng chiến và cái liên minh lắm khi chao đảo của Cam Bốt được tồn tại, một trong những mục đích lâu dài của một cường quốc là củng cố vị thế của mình ở Đông Nam Á. Trong sáu năm kể từ cuộc xâm lăng Cam Bốt, tiếp theo sự hiện diện gia tăng của Mỹ, sự có mặt quân sự của Liên Sô bành trướng ở Thái bình dương làm cho người ta lo ngại. Lợi dụng việc Việt Nam bị cô lập và yếu kém khi đối mặt với Trung Hoa cũng như tình trạng kinh tế tồi tệ, Mạc Tư Khoa vượt lên, đóng vai trò ông chủ chính của Hà Nội. Cái giá của một ông chủ như thế chính là những tiện nghi quân sự mà trước đây bốn năm Hà Nội cương quyết từ chối không chịu dành cho Liên Xô. Sau khi Trung Hoa tấn công Việt Nam được hai năm, Mạc Tư Khoa viện trợ quân sự cho Việt Nam một số lượng vũ khí tính ra cở hai tỷ đồng, gấp mười lần năm 1978. Mặc dù trong mấy năm sau viện trợ quân sự có yếu đi, hàng năm vẫn đạt tới con số 750 triệu. Tất cả những trang bị quân sự Hà Nội nhận được là thuộc hạng đồ cũ -thế hệ thứ hai- do các nước trong khối liên minh quân sự Varsôvi và các nước đồng minh khác của Liên Xô thải ra, Việt Nam vẫn tỏ lòng biết ơn Mạc Tư Khoa Hà Nội mở rộng cửa đón Liên Sô. Cố vấn quân sự Liên Xô có mặt ở Việt Nam tính vào khảng hai ngàn người so với 25 người hồi đầu năm 1977. Thêm vào đó có khoảng ba ngàn chuyên viên Liên Xô phục vụ trong các công trình do Liên Sô viện trợ, bao gồm cả việc tìm kiếm dầu lửa ngoài thềm lục địa Việt Nam. Theo tin tình báo Mỹ, từ năm 1979, viện trợ của Liên Sô cho Việt Nam tính vào khoảng một tỷ đồng một năm. (53) Liên Xô cũng đồng thời gia tăng viện trợ kinh tế và quân sự cho Lào và Cam Bốt và bành trướng sự có mặt của họ.
Cái giá Việt Nam phải trả cho viện trợ Liên Sô không có gì lớn. Mười một ngày sau khi Trung Hoa bắt đầu tấn công Việt Nam, Phạm văn Đồng bí mật đi Liên Sô. Chỉ một thời gian ngắn sau khi Đồng từ Liên Sô trở về hồi đầu tháng Ba 1979, nhiều tàu bè trang bị dụng cụ tình báo thuộc Lực Lượng Đặc Biệt Liên Sô bỏ neo ở Đà Nẵng.(54) Đó là những điều Đồng thỏa thuận trong chuyến đi Liên Sô của ông ta. Các nhà phân tích tình hình Mỹ cho rằng công việc xây dựng quân sự của Liên Sô bắt đầu đặt nền tảng ở Việt Nam, viêc “thuê mướn” các tiện nghi quân sự mà chính là kết quả thỏa hiệp đạt được chính thức giữa Hà Nội và Mạc Tư Khoa. Về điều khoản thứ sáu trong thỏa hiệp nói về những mối đe dọa an ninh là phải thực hiện những biện pháp thích ứng để đối kháng.
Ngày 27 tháng Ba/ 1979 cho thấy rõ ràng hơn. Một hạm đội nhỏ -gồm một tuần dương hạm, một chiến hạm nhỏ và một ngư lôi hạm -là những tàu đầu tiên của Nga thả neo ở vịnh Cam ranh hôm 12 tháng Tư/ 1905 – số tàu trong hạm đội gồm 42 tàu do Đô Đốc Zinovi Rozhdesventsky của Nga Hoàng chỉ huy – tiến vào hải cảng nầy. Có điều khác là hồi năm 1905 vịnh Cam Ranh chỉ là trạm than lấy than đá do Pháp làm chủ – Lúc đó Pháp đuổi hạm đội Nga ra khỏi vịnh vì muốn giữ vị thế trung lập trong cuộc chiến tranh Nga-Nhật. Bảy mươi bốn năm sau, Cam Ranh trở thành căn cứ quân sự lớn do Mỹ để lại. Từ đó, Cam Ranh là căn cứ hải quân lớn nhất và trạm nghỉ chân của tàu chiến Liên Sô bên ngoài lãnh thổ của họ, cũng là một tiền đồn trong kế hoạch lớn của Liên Sô trong vùng biển Nam Hải (Đông Hải – nd) và Ấn Độ Dương.
Mặc dù Liên Sô đã đến hải cảng quân sự nầy, Liên Sô không xây dựng công trình nào lớn ở trên bờ (ngoại trừ một đài kiểm soát tình báo điện tử theo dõi hoạt động tàu Mỹ và Trung Hoa), tuy chậm nhưng gia tăng từng bước một một cách vững chắc số lượng tàu bè và máy bay hoạt động ở hải cảng. Mỗi ngày khoảng 5 đến 10 tàu hoạt động trong vịnh nầy hồi năm 1979 tăng lên 25 đến 35 năm 1985. Số lượng máy bay triển khai ở đây tăng từ 10 đến 15 chiếc mỗi ngày lên 35 hoặc 40 sau cuộc chiến hồi năm 1979 được 6 năm. Đặt ở Việt Nam 16 tàu đánh bom Badgers và một phi đội MiG-23 (loại hoạt động trong mọi thời tiết) cùng thêm với loại máy bay tình báo và vận chuyển đường dài. Liên Xô có đủ khả năng đối đầu với kẻ địch ở Đông Nam Á , vượt ra ngoài điều hồi năm 1978 họ đã ao ước để có được. Tới đầu năm 1986, với chừng 20 đến 25 tàu thủy, gồm cả tàu ngầm, đủ sức phô diễn cùng với các tiện nghi tiếp tế dầu, bến cảng và sửa chữa, gia tăng gấp đôi khả năng của họ ở Ấn Độ dương, Liên Xô trở thành một lực lượng hải quân lớn ở Châu Á.(55) Điều nầy đáng mai mỉa so với những cố gắng của Brzezinsky ủng hộ Trung Hoa để ngăn chặn sự bành trướng của Liên Sô.
Tuyết tan ở Liên Xô, Hà Nội lạnh lẽo
Sự có mặt của Liên xô ở Đông Dương và lực lượng quân sự của họ được xây dựng ở đây tiếp tục lớn mạnh ở hậu trường cuộc chiến tranh nhỏ Cam Bốt. Chiến lược bắt buộc đằng sau “lá bài Hoa Kỳ” của Trung Hoa, tuy nhiên, hai năm sau chuyến đi Mỹ lịch sử của Đặng, (1979 – nd) chiến lược đó đã bắt đầu thay đổi. Liên minh chiến lược Hoa-Mỹ do Brzezinsky khó khăn mới đạt được hồi năm 1978 và sự phát triển của nó hồi năm 1980, khi Liên Xô tấn công Á-phủ-HSn (Afghanistan) với những biện pháp hợp tác an ninh rộng lớn lại gặp khó khăn trong cuộc tranh cử với Ronald Reagan. (56) Trong khi vận động bầu cử, Reagan yêu cầu cải thiện quan hệ với Đài Loan. Việc nầy xảy ra đúng lúc vì những khó khăn chính trị nội bộ Trung Hoa bắt đầu làm cho người ta phải suy nghĩ lại việc gia tăng phối hợp chiến lược với Hoa Kỳ. Tại Hoa Thạnh Đốn, vì việc tranh cải bán vũ khí cho Đài Loan -hai bên vẫn chưa giải quyết được, đợi mãi đến tháng Chạp/1978, khi vội vã tái lập quan hệ bình thường- chính sách ngoại giao của Trung Hoa do Đặng chủ xướng nhằm thành lập một mặt trận chống Liên Xô -cả trong cuộc thế chiến thứ ba nữa -quan điểm chính là tìm kiếm chính sách hợp tác hơn đối đầu. Chính sách hợp tác đó thực hiện tại mỗi quốc gia -ngay cả Liên Xô và Đông u -ngoại trừ Việt Nam. Cuối năm 1981, phó thủ tướng Trung Hoa Lý Tiên Niệm tuyên bố Trung Hoa muốn mở lại các cuộc thương thảo bình thường với Mạc Tư Khoa. Các cuộc thương thảo nầy đã bị ngưng từ khi Liên Xô xâm lăng Á Phủ Hãn.
Trả lời đề nghị mới của Trung Hoa – và rõ ràng có cố gắng lợi dụng sự căng thẳng quan hệ Hoa-Mỹ-, ngày 24 tháng Ba/12982, Brezhnev công khai kêu gọi cải thiện quan hệ với Trung Hoa. Ông ta không những nhắc cho Trung Hoa nhớ rằng Mạc Tư Khoa không bao giờ ủng hộ chính sách hai nước Trung Hoa và cũng không còn nói tới việc Trung Hoa trước kia từng bị phê phán “phản bội chủ nghĩa Mác-Lê”. Brezhnev trấn an Bắc Kinh “Chúng tôi không khước từ và hiện giờ đây cũng không khước từ sự có mặt của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Trung Hoa.”
Chẳng bao lâu sau Trung Hoa đáp ứng bằng cách đề nghị Mạc Tư Khoa rút lui ba trở ngại trong việc bình thường hóa quan hệ giữa hai bên. Những trở ngại nầy được xem là đe dọa an ninh Trung Hoa là: Liên Sô ủng hộ Việt Nam chiếm đóng Cam Bốt, Liên Sô chiếm đóng Á Phủ Hãn và triển khai một số lớn quân đội Liên Xô dọc theo biên giới Nga-Hoa. Trong vòng bảy tháng, việc thương thảo nầy được triệu tập.
Mặc dù Brezhnev có bảo đảm cải thiện quan hệ bình thường với Trung Hoa không “thiệt hại gì quyền lợi nước khác”, Hà Nội vẫn lo ngại khi các cuộc thảo luận nầy bắt đầu. Việt Nam thấy quyền lợi của họ thường bị các siêu cường anh em hy sinh để gặt hái quyền lợi chiến lược cho siêu cường. Từ mùa Thu năm 1982, bảy vòng hội đàm đã diễn ra mà không cho thấy có gì làm giảm thiểu sự ủng hộ của Liên Sô. Rõ ràng Liên Sô không muốn mất quyền lợi quân sự của họ ở Việt Nam để làm vừa lòng Trung Hoa. Tuy nhiên, chẳng có gì rõ ràng về “các trở ngại” ngoại trừ kinh tế, thương mại giữa hai nước có cải thiện đáng kể. Năm 1985, hai bên trao đổi hơn bảy chục cuộc viếng thăm. Sau chuyến viếng thăm của một viên chức cao cấp Liên Sô – Phó Thủ Tướng Ivan Arkhipov tới Trung Hoa hồi tháng Chạp năm 1984, và Phó Thủ Tướng Trung Hoa Yao Yilin tới Mạc Tư Khoa tháng Bảy 1985, Liên Sô thỏa thuận hiện đại hóa 17 nhà máy kỹ nghệ ở Trung Hoa và xây dựng thêm bảy nhà máy mới. Một thỏa ước ký năm 1985 quy định việc bụôn bán của họ phải gia tăng gấp 12 lần trong vòng 5 năm. Mặc dù Bắc Kinh chủ trương quan hệ chính trị sẽ không cải thiện nếu Liên Sô không từ bỏ những “trở ngại”, đặc biệt là ở Cam Bốt, sự mở rộng quan hệ thương mại và các chuyến thăm viếng dành cho thanh niên đưọc thực hiện. Bộ trưởng ngoại giao của hai nước thành hình lịch trình thăm viếng thủ đô của nhau năm 1986.
Dĩ nhiên vẫn còn thiếu tin tưởng Mạc Tư Khoa và quan tâm tới sự đe dọa lâu dài do Liên Sô áp đặt lên Trung Hoa. Trung Hoa vẫn tính toán quan hệ dài lâu với Mạc Tư Khoa không những chỉ về quyền lợi kinh tế và áp lực tâm lý của Trung Hoa đối với Việt Nam và Việt Nam tìm kiếm thỏa thuận với Trung Hoa. Trong một hành động cho thấy rõ muốn gây hố chia rẽ giữa Mạc Tư Khoa và Hà Nội, Đặng Tiểu Bình nói với một nhà lãnh đạo Châu Âu hồi đầu năm 1985 là Trung Hoa không chống Liên Sô đặt căn cứ ở vịnh Cam Ranh nếu Việt Nam rút quân khỏi Cam Bốt. Dù lời tuyên bố đó chỉ là một mưu đồ chiến thuật, buồn cười là nó khác với những gì hồi giữa thập niên 1970, khi Bắc Kinh không ngừng tố cáo Liên Sô theo chủ nghĩa bành trướng bằng việc đòi căn cứ Cam Ranh. Tuy nhiên, vì Liên Sô tỏ ý không quan tâm gì tới những lời tuyên bố của Trung Hoa, hồi đầu năm 1986, Bắc Kinh gia tăng tuyên truyền tấn công Liên Sô. Để trấn an Thái Lan và Hoa Kỳ, và báo cho Liên Sô biết vai trò Trung Hoa ở Cam Bốt không yếu đi, Khmer Đỏ tăng cường bắn phá và tấn công trên bộ vào các lực lượng quân sự Việt Nam.
Trong khi đó, dưới thời Mikhail Gorbachov cai trị, họ trấn an Việt Nam, viện trợ kinh tế và quân sự của họ vẫn tiếp tục (trao đổi gia tăng hàng nông nghiệp xuất khẩu của Việt Nam và nghiêm nhặt trong việc điều hành viện trợ). Việc công khai ủng hộ vai trò của Việt Nam ở Cam Bốt có dấu hiệu bớt nhiệt tình đi. Trong lần đầu tiên trình bày vấn đề Đông Nam Á, Thứ Trưởng Ngoại Giao Liên Sô Mikhail Kapitsa gọi tình hình ở Cam Bốt là “không đảo ngược” được và tiên đoán rằng ”ba trở ngại Trung Hoa đưa ra rồi sẽ phai mờ đi.” Tuy nhiên, trong chỗ riêng tư thì họ kém lạc quan. Họ cho rằng cứ tiếp tục xung đột sẽ làm cho “Hoa Kỳ rảnh tay ở Đông Nam Á”, làm cho quan hệ Liên Sô-Đông Nam Á thêm phức tạp và hạn chế Liên Sô tiếp cận với một trong những vùng sôi động nhất trên thế giới. Họ cũng chỉ ra cho thấy chủ nghĩa quốc gia của những người Khmer mới lên cầm quyền, tốt hơn là Việt Nam nên sớm rút quân khỏi Cam Bốt. Tháng Chạp năm 1985, một chuyên viên hàng đầu của Liên Xô về vấn đề châu Á đường đột nói với tôi: “Việt Nam phải tìm cách thỏa hiệp với Trung Hoa. Họ không thể cho tình trạng thù địch trên biên giới kéo dài mãi.”
Vai trò của chú Sam
Tháng Giêng năm 1985, lịch sử quay đúng một vòng, một thập niên đã qua sau khi chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi Saigon, bộ trưởng ngoại giao các nước Đông Dương kêu gọi Hoa Kỳ hãy quay trở lại vùng nầy để đóng vai trò xây dựng laị xứ sở họ. Sự việc nầy xảy ra tiếp sau liên hệ Nga-Hoa nhú mầm hòa hoãn cũng như quan hệ Mỹ-Hoa thêm tốt đẹp. Chính sách của Reagan muốn thảo luận với Trung Hoa về vấn đề Đài Loan cũng đặc biệt khuyến khích Hà Nội.
Sau khi George Schultz nắm quyền ngoại trưởng thay cho Alexander Haig năm 1982, Hoa Kỳ quan tâm hơn nữa về vai trò của Trung Hoa như là thành viên tham gia cùng một chiến lược. Vấn đề xem Trung Hoa là phần tử đóng một vai trò quan trọng trong vùng, một thị trường tiềm tàng to lớn cho nền thương nghiệp và đầu tư của Mỹ, là phần tử đối lập quyền lực của Liên Xô ở châu Á, không còn chiếm ngự trung tâm tư tưởng chiến lược Hoa Kỳ nữa. Mặc dù Hoa Thạnh Đốn đồng ý với Trung Hoa gây áp lực với Việt Nam, rõ ràng người ta thấy mục tiêu của họ ở Cam Bốt không giống nhau. Trung Hoa khó chịu khi chính quyền Reagan thường nhắc đi nhắc lại lời tuyên bố chống Khmer Đỏ trở lại nắm quyền ở Cam Bốt, Hoa Kỳ cũng kịch liệt chống Việt Nam chiếm đóng Cam Bốt như Trung Hoa vậy. Hoa Kỳ quan tâm đến sự vững bền và liên kết của các nước ASEAN, trên hết là nền an ninh của Thái Lan, hơn là làm cho Trung Hoa vui lòng. Chính sách của Hoa Kỳ được tỏ rõ như vậy. Hoa Kỳ từ chối không đóng một vai trò gì trước tiên cho chính họ ở Cam Bốt nhưng ở đằng sau đó, Hoa Kỳ ủng hộ các nước ASEAN đưa vấn đề liên minh của người Cam Bốt và đảm bảo thành công ở diễn đàn Liên Hiệp Quốc. Năm 1982, Hoa Kỳ bắt đầu một chương trình bảo trợ với trị giá 15 triệu một năm qua các nước ASEAN cho những thành viên không Cộng Sản tham gia liên minh nầy. Phản ảnh phương hướng viện trợ mới của Hoa Kỳ đối với những thành phần không Cộng Sản được coi là “chiến sĩ của tự do” trên khắp thế giới hồi năm 1985, quốc hội chấp thuận ngân khoản 5 triệu đồng viện trợ công khai về kinh tế và quân sự cho lực lượng kháng chiến Cam Bốt.
Trong viễn tượng thay đổi dó, Việt Nam không phản ứng việc viện trợ như thế -điều người Mỹ liên hệ trực tiếp kể từ 1975. Khác với điều họ quan tâm đến tính chất biểu tượng về hành động đó, Hà Nội thấy tình trạng chiến lược thay đổi ở vùng Đông Á, Việt Nam đoán thấy Hoa Kỳ năm 1985 cũng tương tự như hồi năm 1978. Trước khi ký thỏa hiệp với Mạc Tư Khoa và chiếm đóng Cam Bốt, họ đã thực hiện những cố gắng tuyệt vọng để bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ. Sau bảy năm củng cố ảnh hưởng ở Cam Bốt, Việt Nam lại tìm kiếm cơ hội thiết lập liên kết với Hoa Kỳ và thắt chặt hơn nữa với Liên Sô. Ở Hà Nội tình hình thực tế cho thấy vũ khi Liên Xô đã giúp họ loại trừ sự đe dọa do bọn Pol Pot gây nên. An ninh lâu dài của họ ở Đông Dương chỉ có thể có được qua những thỏa ước và bảo đảm quốc tế. Vai trò chính trong cái trò chơi chính trị nầy vẫn là Hoa Kỳ, không phải chỉ ở việc Brzezinsky lập quan hệ chiến lược với Trung Hoa mà cũng còn phải thấy rằng mặc dù quan hệ mật thiết với Mạc Tư Khoa, Việt Nam không phải là môt chế độ bù nhìn. (“Cuộc hôn nhân Việt-Xô không phải xảy ra ở thiên đưòng” Phụ tá bộ trưởng quốc phòng Richard Armitage nói với tôi như thế. Ông ta nghĩ rằng họ sẽ đụng đầu vào đá khi quan hệ hai bên lỏng lẻo đi vì quyền lợi của mỗi bên). Tuy nhiên, Hoa Kỳ chưa sẵn sàng đáp ứng lời kêu gọi của Đông Dương yêu cầu Hoa Kỳ trở lại để đóng một vai trò chính. Thât ra, chính quyền Reagan quan tâm đến việc hai ngàn năm trăm người Mỹ mất tích ở Đông Dương (“tài sản cao quý nhất của quốc gia” đối với Reagan) tạo cho Việt Nam một sức đẩy mạnh để lôi kéo Hoa Kỳ vào vòng đàm phán mới. Do những tín hiệu về phía Việt Nam khuyến khích, Rixhard Armitage đến thăm Hà Nội hồi tháng Hai 1982 để thảo luận về việc người Mỹ bị mất tích trong chiến tranh Việt Nam (MIA). Mặc dù không đạt được kết quả nào vững chắc, chuyến viếng thăm của một viên chức cao cấp chính phủ Hoa Kỳ, kể từ năm 1977 đến giờ làm cho Việt Nam cảm thấy bớt bị bao vây, làm cho Bắc Kinh và các nước Đông Nam Á phải quan tâm tới họ. Mặc dù mối quan tâm về vấn đề MIA đã thúc đẩy Hoa Kỳ xem xét lại chính sách của họ hồi giữa năm 1982, và Hà Nội cũng chẳng nhúc nhích chút nào về vấn đề Cam Bốt. Kể từ đó, một vài cuộc họp cao cấp và thăm viếng có kết quả bằng việc hoàn trả một trăm bộ hài cốt người Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam. Năm 1985, Hà Nội chấp thuận cho một nhóm người Mỹ đến Việt Nam để tìm kiếm những chuyến bay bị rơi trên lãnh thổ Việt Nam. Có điều hứa hẹn là họ có cố gắng đơn phương để giải quyết vấn đề MIA trong vòng hai năm. Đầu năm 1986, Armitage và phụ tá bộ trưởng ngoại giao về vấn đề Đông Á và Thái Bình dương Paul Wolfowitz hướng dẫn một phái đoàn cao cấp của chính phủ Mỹ tới Hà Nội kể từ khi phái đoàn của Leonard Woodcock trở về Hoa Kỳ hồi chín năm trước với bảo đảm hợp tác hoàn toàn mà không có điều kiện tiên quyết nào.
Hà Nội cũng tìm cách dụ hoặc Mỹ bằng cách mập mờ cho biết sẽ cho giảm mức độ Liên Sô xử dụng vịnh Cam Ranh. Cuối năm 1985, Hà Nội bóng gió cho Hoa Kỳ hay là vịnh Cam Ranh vẫn còn nằm trong tay họ kiểm soát và nếu như có một thỏa hiệp về vấn đề Cam Bốt thì mức độ hiện diện quân sự của Liên Xô ở Cam Ranh sẽ giảm bớt. Mặc dù những lời bóng gió như thế cứ nói đi nói lại mãi, Hoa Kỳ vẫn còn hết sức nghi ngờ vì Việt Nam hay “mưu mẹo” ngay cả khi họ “chúi mũi” tới đề nghị đó. Hoa Thịnh Đốn không muốn dàn xếp cuộc thảo luận mà không gở rối cho các nước ASEAN, đặc biệt là tình hình Thái Lan.
Trong khi hoan hô sự hợp tác “nhân đạo” của Việt Nam như một hành động xác định rõ ràng cuối cùng tiến tới bình thường hóa quan hệ hai bên, Hoa Kỳ thường thường nhắc lại rằng việc bình thường hóa quan hệ đó sẽ không tiến hành cho đến khi nào Hà Nội rút quân khỏi Cam Bốt. Về phía Việt Nam thì họ cho rằng việc hợp tác trên vấn đề MIA sẽ làm cho họ gặt hái được nhiều điều tốt. Hà Nội hy vọng trong bầu không khí cải thiện đó, Hoa Thịnh Đốn sẽ mềm mỏng hơn về vấn đề Cam Bốt, Trung Hoa sẽ hòa hoãn hơn và ảnh hưởng từ phía Thái Lan cũng vậy. Ngay cả khi không có gì uyển chuyển hơn, Hà Nội cũng tính rằng việc tăng cường hợp tác với Hoa Kỳ sẽ làm giảm thiểu tinh thần chống Hà Nội ở Mỹ, xuyên qua vấn đề tù binh chiến tranh Mỹ vẫn còn bị giam giữ ở Việt Nam và sẽ làm hoãn trì bớt ý định của chính quyền Reagan hỗ trợ cho phong trào kháng chiến chống Việt Nam ở Cam Bốt.
Tính toán đúng thời điểm
Kể từ khi quân đội Việt Nam tiến vào Cam Bốt, Việt Nam cũng như phía chống lại họ đều tin rằng họ ở về phía Công Lý. Hà Nội tin rằng mỗi một năm qua đi, chế độ Heng Samring tự nó được củng cố, làm hồi sinh đất nưóc Cam Bốt và đối thủ của họ mệt mỏi vì viện trợ cho phong trào kháng chiến mà không thu hoạch được gì, thế giới đành phải chấp thuận viêc đã rồi. Về phía Bắc Kinh thì cho rằng Việt Nam sa lầy trong cuộc chiến tranh du kích không thể thắng được nầy, tình hình kinh tế và an ninh càng lúc càng tồi tệ cùng sự cấm vận kinh tế và áp lực quân sự, rồi ra buộc Việt Nam CS phải rút quân. Tuy nhiên, cuộc chiến ở Cam Bốt kéo dài đã được 7 năm, tất cả những tính toán trên không thành hiện thực.
Chiến tranh của Trung Hoa làm Việt Nam tiêu mòn tài nguyên thiên nhiên. Việc Tây Phương từ chối viện trợ và cho vay đẩy Việt Nam lún sâu vào những khó khăn kinh tế. Kể từ khi chiến tranh chấm dứt, một triệu người đã bỏ nước ra đi – số đông là từ sau năm 1979,- Việt Nam, kẻ anh hùng của Thế Giới Thứ Ba như một chàng khổng lồ giết người trở thành tên nghèo nàn nhất thế giới – Hoa Kỳ đã có một lần bỏ phiếu tái viện trợ cho Hà Nội. Đầu năm 1986, Việt Nam nợ ngoại quốc lên tới 6 tỷ 7, và vì họ không trả đúng nợ, các nước Tây Phương đều đóng cửa. Mặc dù có cải cách kinh tế tự do, khởi đi từ 1980, làm gia tăng lương thực và giúp Việt Nam vượt qua được các cơn khủng hoảng kinh tế. Trong tương lai, kinh tế Việt Nam thiếu vốn đầu tư thật là thê thảm. Viễn tượng đó lại càng u ám hơn khi nền kinh tế Việt Nam bị tính toán sai lầm nghiêm trọng. Trong đảng, vài phần tử cứng rắn chống cải cách, đặc biệt là cố làm giảm mức tiêu thụ bằng việc đổi tiền hồi tháng Chín 1985, chứng tỏ việc đổi tiền nầy là một tai họa. Sau đó tiền bạc bị lạm phát tới mức 500 phần trăm, và ngay cả những phần tử trung kiên ở phía Bắc cũng kêu gọi thay đổi lãnh đạo. Hồi mùa Hè năm 1986, với cố gắng lấy lại lòng tin cho đảng, Lê Duẫn già cả ốm yếu bị tước quyền lực và một số phần tử cải cách được đưa vào chính phủ. Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam lần thứ sáu, dự tính triệu tập vào cuối năm 1986, hy vọng sẽ thay một số phần tử già cả bằng người trẻ hơn, có đầu óc tiến bộ hơn. Tuy nhiên, chẳng có dấu hiệu gì những phần tử cải cách còn trẻ tuổi nầy có hành động gì khác hơn với những người già trước đó.
Mặc dù có một số thành viên ASEAN thiếu tinh thần, chẳng có gì cho thấy rõ là Thái Lan và Trung Hoa -hai phần tử chính yếu- vẫn còn kiên trì. Việt Nam tính toán sai lầm một cách nghiêm trọng rằng Khmer Đỏ sẽ bị đánh đuổi mau chóng hoặc thế giới sẽ quên Cam Bốt đi. Mỗi năm Việt Nam nắm chặt Cam Bốt hơn nhưng trong khi đó thì nhiều nước tại Liên Hiệp Quốc bỏ phiếu chống Việt Nam chiếm đóng Cam Bốt. Mặc dầu bị dân chúng sợ và ghét, nhờ viện trợ của Trung Hoa và Thái Lan, Khmer Đỏ có cơ trở lại trong nước. Mùa khô năm 1985, mặc dù chịu nhiều thiệt hại, Khmer Đỏ đã gia tăng hoạt động chiến tranh du kích trong nội địa. Với việc Việt Nam chiếm đóng đã được 7 năm, những phần tử chống Việt Nam bắt đầu nổi lên. Có nhiều dấu hiệu cho thấy người dân bất mãn quân đội Heng Samring và có triệu chứng coi thường Hà Nội trong hàng ngũ nước Cộng Hòa Nhân Cam Bốt.
Đầu năm 1986, Việt Nam bắt đầu nhận chân rằng mặc dù Cam Bốt vẫn còn trong tay họ, thời gian sẽ không còn ở phía của họ nữa. Việt Nam có thể chiến thắng ở Cam Bốt nhưng đã lỡ mất cơ hội xây dựng an ninh và kiến thiết đất nước giàu mạnh. Trung Hoa thì đang tiến tới hiện đại hóa, và hầu hết các nước không Cộng Sản ở Đông Nam Á càng ngày càng thịnh vượng. Đông Dương thì đắm chìm trong nền kinh tế suy thoái. Dù thấy rõ thời gian là điều thiết yếu, Hà Nội chẳng thay đổi chút nào quan điểm của họ về vấn đề Cam Bốt, coi như đó là chìa khóa của nền an ninh của họ. Họ cố gắng dập tắt phong trào kháng chiến ở Cam Bốt và càng lúc càng tìm kiếm thêm giải pháp ngoại giao. -Một chính phủ liên minh thân hữu do Sihanouk lãnh đạo và có sự bảo trợ quốc tế -để cùng nắm lấy mục tiêu an ninh. Nếu như những phần tử đối kháng bịt mất con đường nầy, thì trong mấy năm nữa Hà Nội chắc phải chịu thua. Dù với cấp lãnh đạo mới, Việt Nam vẫn tiếp tục con đường chiến đấu dù phải trả với bất cứ giá nào.
Chương cuối
Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba có thể nào tránh được không? Theo vài nhận xét đã muộn thì câu trả lời là được. Với những định kiến sợ hãi qua quá trình lịch sử, và những ngờ vực sâu sắc giữa người Khmer và Việt Nam, giữa Việt Nam và Trung Hoa, họ nhìn nhau bằng những căng thẳng nhất định thì cuộc chiến tranh nầy không thể nào tránh được. Một chủ nghĩa đòi lại đất cũ vừa nổi lên và sự tranh cải về nguồn gốc đất đai, từ lâu vì chế độ thực dân Pháp cai trị nên nằm yên và sự can thiệp của ngoại bang vượt quá mức độ bình thường. Nhưng những điều nầy tự nó không chắc sẽ đem lại chiến tranh.
Theo quan điểm của người Việt thì Đông Dương là một sân khấu chính trị đồng nhất cho an ninh và sức sống còn kinh tế của họ trong tương lai, chắc chắn tạo nên va chạm giữa Khmer Đỏ theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan và Hà Nội. Nhưng đến khi chiến tranh chấm dứt thì quan tâm trước tiên của người Việt CS là củng cố đảng Cọng Sản đang nắm quyền trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương và xây dựng lại kinh tế, nhưng không phải là dựng lên một đế quốc Đông Dương. Trong khi Việt Nam CS quan tâm tới sự bất đồng của Khmer Đỏ, họ cũng không vội vàng gì thúc đẩy Khmer Đỏ thay đổi dường lối. Nhưng Pol Pot và các đồng chí của y thì có lúc bị thúc bách. Chính quyền cách mạng của người Cam Bốt được xây dựng với một tốc độ nguy hiểm và quốc gia nầy đã “thanh lọc” tất cả những ai làm bù nhìn cho Việt Nam cũng như những phần tử làm yếu kém công cuộc chuẩn bị đấu tranh một mất một còn với Việt Nam CS bành trướng. Do nhìn thấy kinh tế Việt Nam suy thoái và khó khăn nội bộ, Khmer Đỏ cho rằng không thể nào Việt Nam không tấn công Cam Bốt nên họ tấn công trước. Việc Khmer Đỏ tấn công khiêu khích buộc Hà Nội thay đổi thời biểu để tập trung hoàn toàn vào tình hình an ninh Đông Dương. Trong khi đó thì từ lâu, Trung Hoa nghi ngờ tham vọng của Việt Nam nên họ dùng quyền lực và ngoại giao để ngăn chặn ý đồ Hà Nội muốn lãnh đạo toàn cõi Đông Dương. Công việc của họ phải thay đổi vì Khmer Đỏ khởi xướng. Sau lúc chần chừ ban đầu Trung Hoa trút gánh nặng cho Cam Bốt trong cuộc chiến do chính Khmer Đỏ tạo ra cho họ.
Một điểm nối tiếp rủi ro trong chuỗi biến cố quốc tế cũng làm cho tình hình Đông Dương thêm trầm trọng. Trong gần ba năm, -tới cuối 1978- Trung Hoa cũng bị liên lụy tới cuộc đấu đá nồi da nấu thịt để chấp nhận một đường lối mới, sáng tạo hay thực dụng cho Đông Dương. Thay vì có một chính sách, Trung Hoa lại theo đuổi một chiều hướng trì trệ bắt nguồn từ truyền thống miễn cưỡng thi hành tư tưởng Mao. Tại Hoa Kỳ, đường lối khác biệt nhau đối với châu Á thời kỳ hậu-Việt Nam và những cảm nhận mạnh mẽ của những nhà lập pháp đối nghịch những gì Việt Nam CS hy vọng đưa người Mỹ trở lại giữ vị thế bảo đảm mới đối với việc cân bằng quyền lực trong khu vực. Dù Cyrus Vance và Richard Holkrooke hiểu rằng cơ may của cuộc chiến Đông Dương tạo điều kiện cho Hoa Thạnh Đốn thì họ đã bị thua cuộc trong trận chiến quan liêu trước Zbigniew Brzezinsky chống Cọng và theo giáo phái đa nguyên Mani (*)
(Hết)

Brother Enemy
The War After the War
Nguyên tác của Nayan Chanda
Hoàng Long Hải/ Tuệ Chương dịch
Nguồn: Tvvn

Không có nhận xét nào: